Luận văn thạc sĩ những yếu tố tác động đến việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới 5 tuổi ở thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

125
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh tay chân miệng

Bệnh tay chân miệng (bệnh tay chân miệng) là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi. Bệnh này có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, đặc biệt là ở những khu vực có điều kiện vệ sinh kém. Triệu chứng của bệnh bao gồm sốt, đau họng và nổi các bọng nước trên cơ thể, thường là ở tay, chân và miệng. Theo thống kê, bệnh tay chân miệng đã xuất hiện ở tất cả các tỉnh thành tại Việt Nam, với số ca mắc tăng cao trong những năm gần đây. Việc phát hiện sớm và thực hiện các biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng để hạn chế sự lây lan của bệnh. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm rửa tay thường xuyên, đảm bảo vệ sinh thực phẩm và không để trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh.

II. Nguyên nhân và triệu chứng bệnh tay chân miệng

Nguyên nhân chính gây ra bệnh tay chân miệng là do virus thuộc nhóm Enterovirus, trong đó virus Coxsackie và EV71 là phổ biến nhất. Bệnh thường xảy ra quanh năm nhưng có thể bùng phát mạnh vào mùa hè, đặc biệt ở những khu vực đông dân cư. Triệu chứng của bệnh bao gồm sốt, đau họng, và sự xuất hiện của các bọng nước trên da. Nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như viêm não, viêm màng não, và thậm chí tử vong. Do đó, việc nhận biết sớm các triệu chứng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa là rất cần thiết.

III. Các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng

Các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng (phòng ngừa bệnh) bao gồm việc tuyên truyền và giáo dục cộng đồng về vệ sinh cá nhân, đặc biệt là việc rửa tay thường xuyên. Ngoài ra, cần đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và không để trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh. Các cơ sở y tế cũng cần thực hiện nghiêm túc các quy định về vệ sinh và phòng ngừa lây nhiễm. Việc tổ chức các buổi tuyên truyền tại trường học và cộng đồng cũng rất quan trọng để nâng cao nhận thức về bệnh tay chân miệng và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

IV. Yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện biện pháp phòng ngừa

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho trẻ em dưới 5 tuổi tại TP.HCM. Những yếu tố này bao gồm kiến thức về bệnh tay chân miệng, thái độ đối với việc phòng ngừa, sự hỗ trợ từ cộng đồng, và các yếu tố cá nhân như giới tính và tình trạng chăm sóc trẻ tại nhà. Việc nâng cao kiến thức và thái độ tích cực đối với việc phòng ngừa bệnh sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu số ca mắc bệnh trong cộng đồng.

V. Kết luận và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho trẻ em dưới 5 tuổi tại TP.HCM còn nhiều hạn chế. Do đó, cần có các giải pháp cụ thể nhằm khuyến khích việc thực hiện các biện pháp này. Các giải pháp bao gồm tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao vai trò của các tổ chức cộng đồng trong việc hỗ trợ phòng ngừa bệnh, và nghiên cứu ban hành các chính sách pháp luật liên quan đến phòng ngừa bệnh tay chân miệng. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho trẻ em.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 sẽ giới thiệu khái quát về đề tài và những vấn đề trọng tâm cần hướng tới. Chương 2 giới thiệu về bệnh T-C-M. Đồng thời mô hình niềm tin sức khỏe cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây liên quan đến đề tài cũng được trình bày chi tiết trong phần này. Chương 3 tập trung vào việc xây dựng khung phân tích để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trên cơ sở đó, xây dựng thang đo các biến số, xây dựng mô hình 123doc 4 nghiên cứu, cách thức đo lường các biến số được đề xuất trong mô hình.

Các vấn đề liên quan đến dữ liệu như cách thức chọn mẫu, quy mô mẫu… và phương pháp phân tích dữ liệu cũng được trình bày trong chương này. Chương 4 trước hết là đánh giá chất lượng các thang đo sử dụng trong nghiên cứu, sau đó tiến hành một số thống kê, phân tích để mô tả về dữ liệu. Trọng tâm của chương 4 là xác định những yếu tố có tác động đến hành động phòng ngừa bệnh T- C-M cho trẻ em dưới 5 tuổi ở TP. Hồ Chí Minh.

Sau khi nghiên cứu, những kết quả được so sánh, đối chiếu với kết quả của các nghiên cứu tương tự đã được thực hiện trước đây, trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những nhận định chi tiết về kết quả cho trường hợp cụ thể này. Chương 5 trình bày tóm tắt lại những vấn đề trọng tâm chính mà nghiên cứu đã đạt được. Dựa trên những kết quả khám phá được trong nghiên cứu này, đặc biệt là những yếu tố nào làm tăng hành động phòng ngừa thì đề tài đề xuất các giải pháp nhằm nhằm khuyến khích, tăng cường thêm các yếu tố này từ đó gia tăng hành vi phòng ngừa bệnh T-C-M cho trẻ em. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày những vấn đề liên quan đến bệnh T-C-M, các lý thuyết, các nghiên cứu có liên quan để có được cách tiếp cận phù hợp giải quyết vấn đề nghiên cứu đã đặt ra.

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BỆNH TAY CHÂN MIỆNG 2. Khái niệm Bệnh T-C-M là bệnh gây ra bởi virus, thường gặp ở trẻ em. Căn bệnh này xảy ra quanh năm, tuy nhiên có thể thành dịch vào dịp hè, nhất là ở các khu vực đông dân cư hoặc có điều kiện vệ sinh kém. Dấu hiệu nhiễm bệnh T-C-M thường là sốt, đi kèm với đó là đau họng và nổi các bọng nước trên cơ thể (phổ biến là ở tay, chân, miệng), sau đó trở thành các vết loét (Trần Đình Bình, 2015).

Tác nhân gây bệnh Bệnh T-C-M do các virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên. Virus gây bệnh có dạng hình cầu, đường kính của virus từ 27 đến 30 nm.1: Hình thể và cấu trúc của virus Coxsackie gây bệnh Nguồn: Trần Đình Bình, 2015 Virus này được đào thải ra môi trường bên ngoài qua việc hắc hơi, sổ mũi và việc bài tiết. Virus sẽ bị bất hoạt ở nhiệt 560 độ C trong vòng 30 phút, hoặc cũng có thể bị bất hoạt dưới tác dụng của các tia: gamma, cực tím. Khả năng gây bệnh của virus Virus gây bệnh phân bố quan năm, trong đó sẽ tăng mạnh từ tháng 3 đến tháng năm 5 và đợt từ tháng 9 đến tháng 12.

Căn bệnh này đã xuất hiện trên toàn thế giới. 123doc 6 Đặc biệt trong thời gian gần đây, ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng (chủ yếu ở các tỉnh phía Nam) thì Enterovirus 71 là chủng virus phổ biến gây nên bệnh T-C-M. Căn bệnh này thường gặp phải ở trẻ em dưới 10 tuổi, trong đó dưới 5 tuổi thường phổ biến và khả năng dễ nhiễm bệnh nhất là từ 2 đến 3 tuổi. Việc lây truyền bệnh đến từ việc tiếp xúc với các chất bài tiết của người bệnh.

Thời gian có khả năng lây truyền của người bệnh kéo dài từ những ngày đầu mắc bệnh đến khi hết triệu chứng loét trên cơ thể và đặc biệt dễ lây lan nhất vào thời gian đầu của bệnh. Gây bệnh ở người Khi virus vào cơ thể con người, thường là sau 24 giờ, virus sẽ di chuyển từ niêm mạc má hoặc niêm mạc ruột đến các hạch bạch huyết xung quanh. Sau đó sẽ vào máu và gây nhiễm trùng máu, sau đó đến nhiễm trùng niêm mạc miệng và da. Khi mắc bệnh, thường sẽ xuất hiện các bọng nước dưới da, đặc biệt là ở khu vực tay, chân, miệng.

Nếu không được chăm sóc cẩn thận sẽ gây nhiễm trùng. Đa số bệnh đều qua khỏi, tuy nhiên nếu do EV71 gây ra thì nguy hiểm hơn. Dự phòng và điều trị Các biện pháp dự phòng: - Tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc giữ gì vệ sinh. - Không để trẻ đến lớp học khi mắc bệnh.

Khi có từ 2 trẻ trở lên cùng mắc bệnh trong một thời điểm thì nên cho lớp nghỉ học để theo dõi điều trị, tránh bùng phát thành dịch. - Khi trẻ đi học nhưng có những biểu hiện bệnh thì phải báo với gia đình của trẻ và cơ quan y tế để kịp thời theo dõi. - Định kỳ vệ sinh dụng cụ học tập, đồ chơi, chén, dĩa, muỗng, nĩa… - Các biện pháp để chăm sóc trẻ tại nhà khi trẻ bị bệnh: 123doc 7 + Cách ly trẻ, cho đeo khẩu trang trước khi tiếp xúc. + Xử lý chất thải của trẻ đúng phương pháp.

+ Không tham gia các hoạt động nơi tụ tập đông người trong thời gian mắc bệnh T-C-M. + Theo dõi, nắm tình hình các biểu hiện của các thành viên khác trong gia đình (sốt, loét…) để kịp thời báo cơ quan chức năng. - Tại các cơ sở y tế: Nhân viên y tế phải thường xuyên rửa tay đúng cách, khi tiếp xúc với bệnh nhân, sử dụng đồ bảo hộ cá nhân đúng quy định. Điều trị bệnh T-C-M: Hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị các biểu hiện sốt, loét, bỏng nước.

Cần đưa trẻ đến điều trị tại các cơ sở y tế. Trường hợp cho điều trị ở nhà thì cần chú ý một số vấn đề như: Vệ sinh đúng cách, sử dụng các biện pháp được bác sĩ khuyến cáo để chữa trị, không làm vỡ các bóng nước, và đặc biệt là phải theo dõi các triệu chứng nặng hơn của trẻ, kịp thời đưa đến bệnh viện khi xuất hiện các triệu chứng như co giật, loạng choạng, nôn ói nhiều. LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN Theo kết quả tổng quan tài liệu, vào khoảng năm 1950 thì các nhà nghiên cứu cộng đồng tại Mỹ bắt đầu phát triển lý thuyết mô hình tâm lý học. Tác giả Lewin’s (1951) đã đề cập đến sự quan hệ giữa niềm tin sức khỏe và hành vi.

Năm 1974, Rosenstock được cho là người đầu tiên đưa ra mô hình lý thuyết heath belief model (HBM) Niềm tin sức khỏe. Becker và cộng sự (1977) đã hợp nhất các lý thuyết về lĩnh vực này và tổng hợp nghiên cứu, phát hành nhiều tài liệu với tên gọi hành vi bệnh nhân với phục hồi sức khỏe và kiểm soát bệnh.2: Mô hình niềm tin sức khỏe Nguồn: Conner và Sparks (2005) Qua quá trình vận dụng, lý thuyết HBM là một lý thuyết mạnh trong nghiên cứu tâm lý sức khỏe. Điều đó thể hiện qua số lượng các nghiên cứu thực nghiệm đã áp dựng lý thuyết HBM. Lý thuyết HBM với niềm tin để ảnh hưởng lên hành vi trong lĩnh vực sức khỏe.

Dựa vào lý thuyết HBM, có thể nhận thấy các đặc điểm của con người như giới tính, đặc điểm cá nhân, độ tuổi sẽ ảnh hưởng đến việc phòng bệnh T- C-M. Do đó, các đặc điểm nhân khẩu học, các đặc điểm kinh tế xã hội của người được khảo sát cũng sẽ được xem xét để bổ sung vào mô hình nghiên cứu trong luận văn này. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 2. Nghiên cứu trong nước Lê Thị Kim Ánh và cộng sự (2014) thực hiện đo lường kiến thức về căn bệnh T-C-M, thái độ về căn bệnh này và những hành vi phòng ngừa bệnh T-C-M cho trẻ em.

Đối tượng khảo sát là giáo viên mầm non ở tỉnh Hòa Bình. Trong số 15 trường được chọn ra, có 220 giáo viên được khảo sát. Sau khi thu thập dữ liệu và phân tích, nhóm tác giả kết luận yếu tố kiến thức, yếu tố thái độ và có tác động đến việc thực hành phòng bệnh T-C-M. Cụ thể, những giáo viên có trình độ cao đẳng trở lên có điểm số phản ánh kiến thức về căn bệnh này tốt hơn.

Giáo viên ít kinh nghiệm lại có kiến thức về bệnh T-C-M tốt hơn những giáo viên nhiều kinh nghiệm (5 năm). Những giáo viên chủ nhiệm ít học sinh (dưới 30 học sinh) và có trình độ cao đẳng trở lên sẽ thực hành rửa tay tốt hơn những giáo viên khác. Bên cạnh đó, người nào quan tâm đến bệnh T-C-M, giáo viên dưới 35 tuổi thì sẽ thực hành phòng ngừa tốt hơn nhữung người khác (vệ sinh đồ chơi). Dựa vào kết quả khảo sát và phân tích này, nhóm tác giả Lê Thị Kim Ánh và cộng sự (2014) kết luận việc có trình độ học vấn cao và số lượng trẻ phải chăm sóc ít sẽ có tác động dương đến việc rửa tay đúng cách; đồng thời, những giáo viên trẻ tuổi và chăm sóc ít trẻ sẽ thực hiện việc vệ sinh đồ chơi thường xuyên, đúng cách hơn so với những người còn lại được khảo sát.

Nghiên cứu của cứu của nhóm tác giả Nguyen Thi Nga và cộng sự (2016) cũng nhằm mục tiêu cuối cùng là xem xét về việc phòng ngừa bệnh T-C-M, tuy nhiên chủ khác là nghiên cứu trên những người mẹ chứ không phải giáo viên. Ngoài những yếu tố quen thuộc như kiến thức, thái độ, nghiên cứu có bổ sung thêm yếu tố là sự hỗ trợ của cộng. Có 97 bà mẹ được khảo sát và nghiên cứu này được tiến hành ở Hải Dương và năm 2015. Bảng câu hỏi gồm các câu hỏi dùng để đo lường: Thực hành phòng ngừa bệnh T-C-M, kiến thức về căn bệnh, năng lực cá nhân, sự hỗ trợ của cộng đồng và đặc điểm nhân khẩu học.

Để thực hiện đo lường yếu tố thực hành phòng ngừa bệnh T-C-M ở trẻ em, Nguyen Thi Nga và cộng sự (2016) sử dụng những mục hỏi liên quan đến tần suất thực hiện các hoạt động thường liên quan đến việc phòng bệnh đã 123doc 10 được nhóm tác giả Lê Thị Kim Ánh và cộng sự (2014) sử dụng trước đó. Các câu hỏi này được thiết kế dạng thang đo Likert 5 mức độ. Để đo lường yếu tố năng lực của bản thân, Nguyen Thi Nga và cộng sự (2016) vận dụng các câu hỏi trong bài nghiên cứu của Bandura (1997) để xây dựng các câu hỏi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Yếu tố ảnh hưởng đến biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới 5 tuổi tại TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến việc phòng ngừa bệnh tay chân miệng ở trẻ nhỏ. Nội dung bài viết không chỉ nêu rõ các biện pháp phòng ngừa hiệu quả mà còn phân tích các yếu tố như nhận thức của phụ huynh, điều kiện vệ sinh và sự hỗ trợ từ cộng đồng. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích để nâng cao nhận thức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, từ đó bảo vệ sức khỏe cho trẻ em trong gia đình.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật, hãy tham khảo bài viết "Luận án hiệu quả bổ sung đa vi chất tới cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ gái 11 13 tuổi tại một số trường trung học cơ sở dân tộc bán trú tỉnh yên bái", nơi bạn có thể tìm hiểu về dinh dưỡng cho trẻ em. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ kiến thức thái độ hành vi về phòng ngừa của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện đại học y dược thành phố hồ chí minh" cũng sẽ cung cấp thông tin về thái độ phòng ngừa bệnh tật. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo "Luận văn thạc sĩ investigating the effects of maternal health knowledge on child health in long an province" để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa kiến thức sức khỏe của mẹ và sức khỏe trẻ em. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe trẻ em.