Chương 1: Giới thiệu đề tài Nội dung này bao gồm giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu; trình bày câu hỏi nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời nêu cấu trúc nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn Chương này trình bày cơ sở lý thuyết làm nền tảng để thực hiện nghiên cứu. Cụ thể là lý thuyết hành vi; lý thuyết về niềm tin sức khỏe. Đồng thời nêu lên một 123doc 5 số khái niệm, quy định liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi, những vấn đề liên quan đến bệnh THA; Khảo lược một số nghiên cứu có liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh THA ở nước ngoài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này nêu rõ phương pháp, mô hình nghiên cứu, xác định mẫu nghiên cứu; việc xây dựng thang đo, bảng câu hỏi và cách thức thực hiện phỏng vấn thu thập xử lý thông tin và nguồn thông tin. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu liên quan đến nhận thức, thái độ và hành vi của người bị bệnh THA. Thông qua những kết quả nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi được đặt ra ở phần trên. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Từ những phân tích ở chương 4 sẽ đưa ra kết luận và gợi ý chính sách liên quan đến việc phòng ngừa bệnh THA trong thời gian tới cho cộng đồng.
Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, PHÒNG NGỪA BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 2.1 Khái niệm về huyết áp TheoDr. Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, đã đưa ra khái niệm huyết áp như sau: Quả tim có nhiệm vụ như một máy bơm nước, khiến cho máu lưu thông trong khắp chu thân con người. Huyết áp là độ ép của sự di chuyển máu, có tính tác động vào thành vách bên trong mạch máu cơ thể.
Nói cách khác, huyết áp được xác định bởi số lượng máu bơm ép bởi quả tim, và kích thước cũng như điều kiện của những mạch máu chính (động mạch, arteries). Ngoài ra, một số yếu tố khác trong cơ thể có thể ảnh hưởng đến huyết áp như: khối lượng nước hoặc muối chứa; điều kiện của hai quả thận, hệ thần kinh, những mạch máu, và mức độ của những kích thích tố khác nhau. Chúng ta muốn biết được huyết áp cao thấp như thế nào? Cách duy nhất, chúng ta cần phải dùng qua một dụng cụ đo huyết áp. Khái niệm tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Một người lớn được gọi là THA khi HA tối đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA.
Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau. THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành. (Trích theo Chu Hồng Thắng, 2008, Nghiên cứu thực trạng bệnh THA và rối loạn chuyển hoá ở người THA tại xã Hoá Thượng huyện Đồng Hỷ -Tỉnh Thái Nguyên) Các giai đoạn của THA: THA giai đoạn 1; giai đoạn 2; và giai đoạn 3 là:định nghĩa là huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trương trong khoảng 140đến 159 123doc 7 và / hoặc 90-99; 160-179 và / hoặc 100-109; 180 và hơnvà / hoặc 110 và hơn mmHg, tương ứng. Phân loại tăng huyết áp Theo tổ chức WHO/ISH 1999 và 2003 trong đó đánh giá nguy cơ thêm cho nhóm có HA bình thường và bình thường cao.
Các khái niệm nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao để chỉ nguy cơ bị các bệnh lý tim mạch trong vòng 10 năm lần lượt tương ứng là <15%, 15-20%, 20-30% và > 30% theo Framingham, hoặc nguy cơ bị bệnh lý tim mạch gây tử vong lần lượt tương ứng là < 4%, 4-5%, 5-8% và >8% theo tiêu chuẩn SCORE. Các phân loại này có thể được sử dụng như là các dấu chỉ điểm của nguy cơ tương đối, vì vậy các bác sỹ có thể tự áp dụng một hay vài biện pháp thăm dò mà không bắt buộc phải dựa vào các ngưỡng điều trị HA đã quy định. Phân độ tăng huyết áp Phân loại HATT (mm Hg) HATTr (mm Hg) HA tối ưu <120 <80 HA bình thường <130 <85 HA bình thường cao 130-139 85-89 THA độ 1 (nhẹ) 140-159 90-99 THA độ 2 (trung bình) 160-179 100-109 THA độ 3 (nặng) ≥180 ≥110 THA tâm thu đơn độc ≥140 <90 Nguồn: WHO/ISH 1999 và 2003 Phân loại này dựa trên đo HA tại phòng khám. Nếu HATT và HATTr không cùng một phân loại thì chọn mức HA cao hơn để xếp loại.
-Khi HATT và HATTr nằm hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn đã phân loại. THA TÂM THU đơn độc cũng được đánh giá theo mức độ 1, 2 hay 3 theo giá trị của HATT nếu HATTr <90 mm Hg. - Áp lực mạch đập tối ưu là 40 mmHg, nếu trên 61 mmHg có thể cho thêm 1 tiên lượng nặng cho bệnh nhân. Một số loại hình THA có thể gặp 1.
THA tâm thu đơn độc Đối với người lớn tuổi, Huyết áp tâm thu có xu hướng tăng và huyết áp tâm trương có xu hướng giảm. Khi HATT >140 mmHg và HATTr <90 mmHg gọi là THA TÂM THU đơn độc. Độ chênh HA (tâm thu – tâm trương) và HATT dự báo nguy cơ và quyết định điều trị. THA tâm trương đơn độc Thường xảy ra ở người trung niên, THA tâm trương là khi HATT < 140 và HATTr > 90 mm Hg.
THA “áo choàng trắng” và hiệu ứng ”áo choàng trắng”. Một số bệnh nhân HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc phòng khám trong khi HA hằng ngày ở nhà hoặc đo bằng phương pháp 24 giờ lại bình thường. Tình trạng này gọi là “THA áo choàng trắng”, tỷ lệ mắc khá cao là 10-30%. THA áo choàng trắng tăng theo tuổi, có thể là khởi đầu của THA thực sự và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch.
Những bệnh nhân này có tổn thương cơ quan đích nhiều hơn và nguy cơ cao hơn những đối tượng HA luôn luôn bình thường. Nói chung, dù là THA ở bất kỳ hình thức nào, bệnh nhân đều nên đến khám tại các cơ sở y tế để được tư vấn, xét nghiệm … xác định mức độ bệnh nhằm có phương án điều trị bệnh và dự phòng các biến chứng nguy hiểm của THA có thể xảy ra với bất cứ ai và vào bất kỳ thời điểm nào. THA giả tạo THA giả tạo là hiện tượng huyết áp khi đo không phản ánh thực với tình trạng huyết áp trong động mạch mà thường là cao hơn. Trường hợp này đã được một nhà khoa học quan sát và mô tả gần 100 năm trước đây.
Tuy nhiên, cho đến 123doc 9 năm 1978 điều đó vẫn chưa được công nhận. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu nhận thấy hiện tượng THA giả tạo thường gặp ở người bị vữa xơ động mạch ở cánh tay. Theo giáo sư Albert Founier – Trung tâm bệnh viện Đại Học Y Amiens – Pháp, THA giả tạo còn thấy ở những người cao tuổi, những người trẻ tuổi bị đái tháo đường và suy thận do can-xi hóa mạch máu. - Có thể nói sự chênh lệch giữa huyết áp tăng theo tỷ lệ thuận với tình trạng vữa xơ động mạch cánh tay: Càng xơ hóa bao nhiêu thì mức độ huyết áp tăng giả càng lớn bấy nhiêu.
Có những bệnh nhân khi đo huyết áp theo phương pháp thông thường là 245/86mmHg. Nhưng khi đo huyết áp trong lòng mạch lại chỉ còn 148/86mmHg. - Trên thực tế, nên thận trọng trước một chẩn đoán THA nếu như bản thân bạn không hề thấy có một dấu hiệu nghi ngờ nào như đã được thầy thuốc chẩn đoán “ đã bị tổn thương cơ quan đích “ như “ phì đại thất trái “ hay “ tổn thương võng mạc trung tâm”… Nếu như bạn đã có những dấu hiệu hoặc triệu chứng của xơ vữa động mạch ở mạch máu ngoại biên như dấu hiệu “ khập khểnh cách hồi “. thì càng nên thận trọng.
Sự có mặt của dấu hiệu vôi hóa động mạch được phát hiện trên Xquang cũng là một dấu hiệu giúp thầy thuốc cảnh giác với hiện tượng THA giả tạo. - Sự thận trọng này là sự cần thiết vì sự an toàn của chính bạn. Nếu trường hợp bệnh nhân mô tả trên được điều trị bằng thuốc hạ huyết áp, chắc chắn sẽ gây tụt huyết áp dưới mức bình thường, gây thiếu máu nuôi dưỡng các cơ quan trong cơ thể, dẫn đến các tai biến như ngất, đột quỵ và các biến chứng khác.2 Kiến thức Tri thức hay kiến thức (tiếng Anh: knowledge) bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục.Trong tiếng Việt, cả" tri" lẫn "thức" đều có nghĩa là biết. Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành.
Nó có thể ẩn tàng, chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tường minh, như những hiểu 123doc 10 biết lý thuyếtvề một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống. Hay có khái niệm khác về kiến thức đó là những hiểu biết của con người về một lĩnh vực cụ thể nào đó. Ví dụ: Hiểu biết rằng phân người có nhiều mầm bệnh nguy hiểm Theo Đàm Khải Hoàn &cộng sự (2007)kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quátrình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống. Mỗi người có thể thuđược kiến thức từ thày cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những ngườixung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp.
Từ đógiúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, có hành vi phù hợptrước mỗi sự việc. Các kiến thức về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng caosức khỏe là điều kiện cần thiết để mọi người có cơ sở thực hành các hành visức khỏe lành mạnh 2.3 Thái độ Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái độ,thì đồng thời cũng xuất hiện những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ. Mỗi định nghĩa lại bàn tới một khía cạnh của thái độ, góp phần làm phong phú thêm cách hiểu về phạm trù này. Trong từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, NXB Tp.