Chương I: Cơ sở lý luận nghiên cứu về văn hóa ngõ phố trong đô thị tỉnh lị Việt Nam Chương II: Thực trạng tiểu văn hóa ngõ ở thành phố Vinh Chương III: Vai trò, yếu tố tác động và các giải pháp đối với tiểu văn hoá ngõ phố - 12 - z CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA NGÕ PHỐ TRONG ĐÔ THỊ TỈNH LỊ Ở VIỆT NAM 1.1 Đô thị và đô thị hoá 1.1 Đô thị Đô thị xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người và trải qua những giai đoạn phát triển quan trọng. Mỗi quốc gia đều có hàng trăm đô thị lớn nhỏ các loại. Tiêu chuẩn để được gọi là đô thị ở các nước khác nhau có thể khác nhau, tiêu chuẩn đó cũng thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy nhiên những tiêu chí để nhận dạng và dùng để phân biệt đô thị và nông thôn thì dù đã có những biến đổi nhất định, nhưng tương đối giống nhau trên toàn thế giới hay nhất quán qua các thời kỳ lịch sử.
Đô thị là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khác nhau có những định nghĩa về đô thị khác nhau tuỳ theo mục đích, chức năng và nhiệm vụ của ngành. Theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị là: “Không gian cư trú của của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [28, tr.836] Xã hội học định nghĩa đô thị dựa trên cấu trúc xã hội và chức năng mà nó thực hiện, xem đô thị như là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý mang những đặc trưng nhất định. - Có số dân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất - Có một phần dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số chuyên gia. - Theo Max Weber một đô thị phải đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành - Các đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân được biết đến không phải như một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số tương tác với người khác không phải như cá nhân mà là với vai trò mà họ đảm nhận.
- Các đô thị đòi hỏi một “gắn kết xã hội” dựa trên luật lệ hợp lý. Một định nghĩa khác đó là: Đô thị là một kiến tạo lãnh thổ - xã hội, một hình thức cư trú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người, được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau: - Là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế. - Đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp. - 13 - z - Là môi trường trực tiếp tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội và cá nhân.
- Giữ vai trò chủ đạo đối với các vùng nông thôn xung quanh và cả toàn xã hội. Tuy nhiên dù sử dụng định nghĩa hay cách tiếp cận nào thì đô thị trước hết là nơi cư trú của đa phần cư dân phi nông nghiệp, có quy mô dân số lớn với mật độ dân số cao. Từ góc độ xã hội học mọi đô thị được cấu thành từ hai nhóm thành tố chủ yếu sau: - Các thành tố không gian vật chất: Gồm môi trường không gian hình thể do con người tạo ra, bao gồm không gian kiến trúc, quy hoạch cảnh quan đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cả điều kiện khí hậu sinh thái tự nhiên. - Các thành tố tổ chức – xã hội: Đó là cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ đô thị với tất cả những thể chế luật lệ hiện hành tại đó.
Đây là hai nhóm yếu tố không thể tách rời cấu thành nên đời sống đô thị.2 Đô thị hoá Lịch sử loài người đã chứng kiến hai cuộc cách mạng đô thị. Cuộc cách mạng thứ nhất diễn ra cách nay khoảng 8000 năm, với sự xuất hiện của các khu định cư kiểu đô thị như thành phố Jericho thuộc Ixrael ngày nay. Cuộc cách mạng đô thị thứ hai gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ giữa thế kỷ 18 ở châu Âu và Bắc Mỹ. Đây thực sự là một cuộc cách mạng sâu rộng và làm xuất hiện những hiện tượng xã hội chưa từng thấy trong lịch sử.
Các dòng người di cư mạnh mẽ từ nông thôn vào đô thị khiến cho dân số đô thị tăng đột ngột, các đô thị ngày một phình to ra và thôn tính nông thôn cả về đất đai lẫn đời sống. Ngày nay chúng ta lại chứng kiến những điều tương tự trong cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba đang diễn ra ở các nước đang phát triển. Những hiện tượng đó được khái quát thành khái niệm “đô thị hoá” trong xã hội học và một số ngành khoa học xã hội khác. Cũng như khái niệm đô thị, tuỳ theo góc độ tiếp cận, người ta có những định nghĩa khác nhau về đô thị hoá.
Một cách chung nhất, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị hoá được định nghĩa như sau: Đô thị hoá là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị.836] - 14 - z Đô thị hoá được định nghĩa dựa trên cách tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh tế là sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị. Theo cách tiếp cận đó thì quá trình đô thị hoá được đơn giản hoá thành quá trình gia tăng dân số sống ở đô thị. Nếu vậy thì không thể nào giải thích được tầm quan trọng của đô thị hoá cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại. Chính vì vậy ngày nay quan điểm về đô thị hoá đã có phần thay đổi khi mà người ta bắt đầu tính đến mặt xã hội của quá trình này.
John Macionis viết: “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội”[21, tr. Theo đó đô thị hoá là một quá trình lớn bao trùm mà trong đó có nhiều quá trình nhỏ diễn ra. Đó không chỉ là quá trình gia tăng dân số đô thị hay mở rộng diện tích đô thị, mà còn là những quá trình làm thay đổi mạnh mẽ về mặt xã hội như: thay đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp của những người nông dân vừa trở thành thị dân, sự lan tỏa và phát triển của lối sống và văn hoá đô thị… Nói một cách khái quát thì đô thị hoá là quá trình tổ chức lại phương thức và môi trường cư trú của con người. Đây là một cuộc thay đổi toàn diện và sâu sắc, không thể cưỡng lại và cũng không thể đảo ngược.
Đó thực sự là một cuộc lột xác cho những nơi mà nó đi qua.3 Đô thị hoá tại Việt Nam Đô thị hoá là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi quốc gia. Việt Nam cũng là một trong các nước đang phát triển đang trải qua giai đoạn đô thị hoá mãnh liệt và sâu sắc với những đặc điểm chung như đã nói ở trên. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam thực chất trước hết là quá trình biến làng thành phố, từ nông thôn trở thành đô thị, từ đô thị hành chính thành những đô thị đa chức năng. Cùng với sự phát triển kinh tế chúng ta đang ở trong một cuộc cách mạng về đô thị, với sự hình thành các đô thị mới, mở rộng, nâng cấp, nâng hạng hàng loạt đô thị khác.
Dân số đô thị đang tăng nhanh chưa từng thấy. Sự bùng nổ đó cũng kéo theo nhiều hệ luỵ khó tránh khỏi.KTS Nguyễn Hồng Thục [3, tr. 68] đánh giá có ba nghịch lý trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam đó là: - Đô thị hoá xảy ra trước công nghiệp hoá: Ở các nước phát triển đi trước thì trước khi phát triển các đô thị hiện đại thì họ đã có ít nhất từ 30-50 năm công nghiệp hoá. Chính cuộc cách mạng công nghiệp hoá đã chuyển hoá phương thức sản xuất nông - 15 - z nghiệp của cư dân nông thôn sang lao động công nghiệp dịch vụ với những cư dân thành thị.
Nó không những tạo tiền đề về kinh tế mà còn tạo tiền đề vè văn hoá, lối sống cho cư dân, giúp họ bước vào cuộc sống đô thị ít bỡ ngỡ hơn. Ở Việt Nam thì quá trình này diễn ra ngược lại. Sự di cư dân số vào đô thị tăng nhanh và sớm hơn tốc độ công nghiệp, dịch vụ, điều này dẫn đến tình trạng đô thị hoá cưỡng bức. - Hạ tầng kỹ thuật đi sau: Trải qua cách mạng công nghiệp trước nên hạ tầng kỹ thuật của các nước phát triển có thể chịu đựng tốt làn sóng nhập cư lao động chứ không như ở nước ta.
Khảo sát đất xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của nhiều đô thị ở Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 10-15% đất đô thị, trong khi yêu cầu tối thiểu cần từ 30-35%. - Thôn tính đất vành đai: Năm 1996 chiến lược phát triển đô thị Việt Nam vạch kế hoạch cho tổng thể đất đô thị đến 2020 là 460.000 ha, thì đến 2006 đã thực hiện trên 477.000 ha, vượt kế hoạch 14 năm. Điều này đi ngược nguyên tắc giữ các vành đai xanh để đảm bảo phát triển bền vững. Xoá đi ranh giới địa lý giữa các thành phố, lấy đi những vùng đất màu mỡ luôn cung cấp rau xanh thực phẩm và các loại rau quả, thủ tiêu những lá phổi xanh, không gian nghỉ dưỡng mà lẽ ra nhất thiết phải gìn giữ.4 Phân loại đô thị Để quản lý đô thị các nước đều có quy định pháp luật về phân loại hay xếp hạng đô thị.
Ở nước ta văn bản pháp luật quy định hiện hành về vấn đề này là Nghị định 71 ra ngày 5/10/2001 của Chính phủ. Theo đó, đô thị được hiểu bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Đô thị nước ta được chia làm 6 loại từ loại đặc biệt đến loại năm. Đô thị loại đặc biệt: có chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.