Chương 1: Tổng quan chính sách của Dang và Nhà nước về tôn giáo từ năm 1981 đến năm 2008. Chương 2: Chính sách của Đảng và Nhà nước với Phật giáo từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời năm 1981 đến năm 2008. Chương 3: Giáo hội Phat giáo Việt Nam với chính sách của Đảng va Nhà nước. Chương | TONG QUAN CHÍNH SÁCH CUA DANG VÀ NHÀ NƯỚC VE TON GIÁO TỪ NĂM 1981 DEN NĂM 2008 1.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo 1. Khái niệm mácxít về tôn giáo Ngày từ buổi bình minh của xã hội loài người, tôn giáo đã bat đầu xuất hiện. Nó vận động, phát triển cùng với các hình thái kinh tế xã hội và tham gia vào mọi mặt của đời sống. Đề hiểu rõ bản chất, các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị luôn mong muốn tìm ra một khái niệm chung nhất về tôn giáo.
Song cho đến nay, khái niệm tôn giáo vẫn đang là vẫn đề tranh luận trong giới xã hội học tôn giáo. Các nhà duy vật trước C.Ăngghen đều coi tôn giáo là sự lừa bip, giả dối, là kết quả của sự ngu đốt. Cụ thé như, Phơbách thì cho rằng: tôn giáo là sự phản ánh sự tồn tại của chính bản thân con người, con người suy nghĩ, suy tâm thé nao thì thượng dé của họ là đúng như vậy; ý thức về chúa là ý thức con người rút ra về chính bản thân nó. Trong tác pham Góp phần phê phán chủ nghĩa pháp quyền của Hêghen, C.
Mac khang định: “Tôn giáo là su tự ý thức va sự tu cảm giác cua con người, chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại dé mt bản thân mình một lần nữa nhưng con người không phải là sinh vật trìu tượng, an náu đâu đó ngoài thế giới. Con người là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ay, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược” [58, tr. Hay “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phién của nhân dân” [58, tr. Angghen cho rang: “Tôn giáo sinh ra từ thời đại hết sức nguyên thủy. Do đó, những khái niệm tôn giáo ban đầu ay thường là chung cho một tập đoàn dân cư, cùng dòng máu, sau lại phân chia ra, phát triển một cách riêng biệt ở mỗi dân tộc” [59, tr. Angghen 10 cũng đưa ra quan điểm của mình: “Tất cả mọi tôn giáo chăng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở tran thé đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thé” [60, tr.
Nó được coi là định nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo. Từ những quan điểm của C. Ăngghen cho thấy, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh những tâm tư nguyện vọng, những ước mơ của người dân lao động về một cuộc sống hạnh phúc, không có bat bình đăng, không có điều ác. Qua tôn giáo, mọi người đều có một cuộc sống ấm no, tràn đầy tình yêu thương giữa con người với con người, được giải thoát khỏi áp bức, bất công.
Song những ước mơ đó lại không phải do người lao động đấu tranh mà có được, mà do một đẳng siêu nhiên ban cho nên nó chỉ là một thé giới hạnh phúc tưởng tượng: đúng như C. Mác nói: “Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân”, là những “bông hoa giả” nhưng lại được quần chúng tiếp nhận một cách hồ hởi, nhiệt tâm và đầy thỏa mãn. Đây chính là chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo. Như vậy có thé thấy, các nhà chủ nghĩa Mác - Lénin đã tập trung đi sâu làm sáng tỏ bản chất của tôn giáo, coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng; cho răng tôn giáo “ru ngủ” quần chúng, làm nhụt ý chí đấu tranh và biến những người lao động thành kẻ thụ động cam chịu áp bức, nó giam cầm con người trong các quan niệm duy tâm, thần học - hướng họ về các lực lượng siêu nhiên mà họ hoàn toàn quy phục, nó hạn chế tính tích cực của xã hội.
Tuy nhiên, theo Mác - Lénin, niền tin tôn giáo còn là “sự phan kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy”; tôn giáo là biểu lộ thái độ không chấp nhận, không bang lòng với cuộc sống thực tại - du sự phản kháng yếu đuối, tiêu cực, không phải từ những đấu tranh đề giành lại. Không dừng lại ở quan điểm đó, cùng với thời gian, khái niệm tôn giáo được các nhà khoa học, những người hoạt động chính trị, kế cả những học giả vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lénin, tiếp cận ở nhiều khía cạnh, 11 góc độ khác nhau, rất khó dé thống nhất và đưa ra một khái niệm chung về tôn giáo. Tuy nhiên, theo GS.TS Đỗ Quang Hưng có thể tiếp nhận các luận điểm của Mác, Ăngghen thành ba loại: “Loại thứ nhất, lay thé nghiệm cá nhân của chủ thé tín ngưỡng làm tiền đề tiên quyết cho bản chất và định nghĩa tôn giáo (.) Loại thứ hai, lẫy chức năng xã hội của tôn giáo làm hạt nhân định nghĩa và khăng định bản chất của tôn giáo (.) Loại thứ ba, từ góc độ “bản thể luận” của tôn giáo mà định nghĩa (. Theo đó, cho du có hơn 150 định nghĩa về tôn giáo, nhưng nhìn chung người ta vẫn cho rằng tôn giáo là tương quan giữa con người với sự linh thiêng (Sacred), với quyền năng (Power), đẳng siêu việt (Transcendent), cái tuyệt đối (Absolute), thực tại tối cao (Supreme reality).
Tôn giáo còn được M. Bertrand tiếp cận như một lực lượng xã hội: “Một tôn giáo không chỉ là tập hợp những biểu tượng, những niềm tin, mà còn là những thực hành có tính nghi thức và văn hóa. Nó cũng còn là một thể chế xã hội, một tổ chức có tính chất của một cộng đồng” [34, tr. Một học giả người Trung Quốc, tên Lữ Đại Cát, đưa ra định nghĩa: “Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo lực lượng chi phối cuộc sống hang ngày của con người thành một ý thức xã hội về lực lượng siêu trần thế, là một chỉnh thể văn hóa xã hội tong hợp những loại ý thức và hành vi này và làm cho nó quy phạm hóa” [34, tr.
Đã có rất nhiều sách báo giải thích các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, nhiều học giả đã nhận thức được đúng thực chất, cốt lõi của luận điểm Mac - Lênin về tôn giáo nhưng có những quan điểm thậm chí giải thích sai lệch, áp đặt, mang nặng tư tưởng “tả” khuynh, coi tôn giáo như là một hiện tượng hoàn toản tiêu cực, có khi còn nâng tôn giáo mang tính phản động. Thực tế đã cho thấy, những luận điểm giải thích trên đã bị bác bỏ. Quan điểm nhất quán của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với tôn giáo, khắc phục những mặt tiêu cực, hạn chế trong tôn giáo là yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng con người, đấu tranh chống các thé lực xuyên tạc, lợi dụng tôn giáo, đấu tranh thủ tiêu chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới. 12 Nhưng điều đó không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn tôn giáo, không kế thừa những giá trị nhân bản tốt đẹp trong nó.
Theo các ông, muốn thay đôi ý thức xã hội phải thay đôi tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng ở con người phải xóa bỏ nguồn gốc làm nảy sinh nhu cầu cần có ảo tưởng; muốn day lùi về ước mơ thiên đường bên kia, phải kiến tạo được thiên đường ở thế giới hiện hữu. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện rất rõ trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (tháng 6 năm 2004) của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 3 như sau: 1. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thê hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng: thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biéu cho những giá tri tốt đẹp về lich sử, văn hóa, dao đức xã hội. Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác.
Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận. Tổ chức tôn giáo cơ sở là đơn vị cơ sở của tô chức tôn giáo ban đầu bao gồm ban hộ tự hoặc ban quản trị chùa của đạo Phật, giáo xứ của đạo Công giáo, chi hội của dao Tin Lành, họ đạo cua đạo Cao Dai, ban tri sự xã, phường, thị tran của Phật giáo Hòa Hảo và đơn vị cơ sở của tô chức tôn giáo khác. Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo. Hội đoàn tôn giáo là hình thức tập hợp tín đồ do tô chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo.
Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận. Tin do là người tin theo một tôn giáo và được tô chức tôn giáo thừa nhận. Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo. Chức sac là tín đô có chức vụ, phâm sac trong tôn giáo.
Về nguồn gốc của tôn giáo Các nhà lý luận theo trường phái duy tâm thường cho rằng tôn giáo là cái tự có, thần thánh là cái hữu hiệu ngoài thế giới vật chất hoặc cho rằng tôn giáo “là thuộc tính vốn có trong ý thức con người mà không lệ thuộc vào hiện thực khách quan; hay nói cách khác tôn giáo là sản phẩm mang tính nội sinh của ý thức con người” [104, tr. Theo thuyết duy vật mácxít, thì những gì nằm trong ý thức con người, kể cả tôn giáo, đều là sự phản ánh của thế giới vật chất.