phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn đƣợc kết cấu gồm : 2 chƣơng và 4 tiết z 4 B. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 PHẬT GIÁO THỜI KỲ LÝ – TRẦN 1. Phật giáo thời Lý ( 1010 – 1225) 1.1- Khái quát quá trình du nhập Phật giáo ở Việt Nam trƣớc thời Lý z 5 Phật giáo đƣợc truyền bá vào Việt Nam từ khoảng đầu Công nguyên.
Xã hội Việt Nam thời kỳ đó phân chia thành hai tầng lớp, tầng lớp trên là các quan lại Trung Quốc và một số thuộc viên ngƣời Việt, họ mang thế giới quan Nho giáo và phƣơng thuật phƣơng Bắc, tầng lớp dƣới là những ngƣời nông dân bản xứ trồng lúa nƣớc, họ tin ở sức mạnh của ông Trời trên cao có thể khuyến thiện, trừng ác, tin ở các hiện tƣợng tự nhiên nhƣ mây, mƣa, sấm, chớp, núi, sông… coi đó là những vị thần có thể phù trợ cho con ngƣời hoặc gây cho con ngƣời những tai hoạ. Trong bối cảnh tín ngƣỡng và văn hoá đó, Phật giáo đã đƣợc truyền bá vào Việt Nam. Thuyết “nhân quả nghiệp báo” của đạo Phật phù hợp với quan niệm ông Trời trừng phạt kẻ ác, ban thƣởng cho ngƣời lành. Những quan niệm công đức, tam bảo, cúng dƣờng, luân hồi, nghiệp báo… không có quan niệm nào chống đối tín ngƣỡng Giao Châu hồi ấy.
Đạo Phật đã thấm vào văn hoá của ngƣời Việt một cách tự nhiên và dễ dàng. Trung tâm Phật giáo cổ xƣa nhất ở nƣớc ta là Luy Lâu- trụ sở của Giao Chỉ, và cũng là trung tâm thƣơng mại quốc tế. Từ đây có các tuyến đƣờng bộ và thuỷ nối liền với Bành Thành và Lạc Dƣơng (Trung Hoa). Do đó các nhà buôn ấn Độ và Trung á đến đây buôn bán từ rất sớm và cùng với họ là các vị tăng đến truyền đạo và hành đạo ở đây.
Tại đây đã xuất hiện một tác phẩm Phật giáo nổi tiếng viết bằng chữ Hán đó là cuốn “Lí hoặc luận” của Mâu Tử (thế kỷ thứ II). Một dấu tích khác là chuyện “Chử Đồng Tử đi tu” đƣợc chép trong cuốn “Lĩnh Nam trích quái”. Câu truyện nói đến một nhà tu ấn Độ ngoài đảo có phép lạ, nói tới cả Chử Đồng Tử và Tiên Dung cả hai ngƣời đều giác ngộ, về sau bỏ chuyện buôn bán đi tìm thầy học đạo. Qua câu truyện có thể thấy sự hấp dẫn của đạo Phật đối với ngƣời dân Việt cả bình dân lẫn quý tộc.
Qua nhiều thế kỷ với tƣ cách là trụ sở của Giao Chỉ, từ Luy Lâu đã có điều kiện truyền bá và phát triển đạo Phật ra nhiều vùng. Tuy kẻ đô hộ ở đây là ngƣời phƣơng Bắc vốn mang thế giới quan Nho giáo, đạo Hoàng Lão và phƣơng thuật phƣơng Bắc; vốn có tƣ tƣởng bá quyền và thái độ kì thị dân tộc, z 6 nhƣng qua thực tế họ không thể không thừa nhận ƣu thế của đạo Phật so với đạo Nho và đạo Hoàng Lão, về giải thích nỗi khổ, về con đƣờng thoát khổ, về tạo nghiệp, về thế giới an lạc của chúng sinh…. Nó chứng minh sức mạnh mẽ của Phật giáo ngay từ buổi đầu du nhập, sự gắn bó của đạo Phật với nền văn hoá dân tộc. Tuy nhiên Phật giáo Luy Lâu lúc này không hoàn toàn giống Phật giáo nguyên thuỷ, cũng không hoàn toàn giống Phật giáo ở ấn Độ đƣơng thời.
Trong thực tế nó đã bị biến dạng do truyền thống dân tộc, tƣ tƣởng và tín ngƣỡng của ngƣời Việt. Phật giáo Luy Lâu có nét tƣơng tự nhƣ tín ngƣỡng dân gian của dân cƣ nông nghiệp. Chẳng hạn Phật đƣợc quan niệm nhƣ một ông thần có ở khắp mọi nơi, có thể biết đƣợc nỗi suy tƣ và hành vi của con ngƣời, có thể cứu vớt ngƣời tốt, trừng trị kẻ xấu. Đức Phật nhƣ một vị thần linh có phép lạ, có thể biến hoá thành các hiện tƣợng tự nhiên, có thể biến các hiện tƣợng tự nhiên xung quanh con ngƣời thành các vị thần thánh linh thiêng mang phúc, trừ hoạ nhƣ: hòn đá, tƣợng Tứ Pháp trong truyện “Man nƣơng” hay cái gậy, cái nón trong truyện “Chử Đồng Tử”.
Từ Luy Lâu, Phật giáo lan truyền ra khắp đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Hiện tƣợng “Tứ pháp” của Luy Lâu đã phổ cập ra nhiều vùng ở đất nƣớc. Nhân dân ta tiếp thu Phật giáo thời kỳ này chủ yếu là những tƣ tƣởng bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, gần gũi với đạo lí dân tộc, những nghi lễ của Phật giáo đều cầu mong an ủi những ngƣời dân đang bất lực trƣớc cuộc đời và xã hội, tạo ra một tôn giáo, hệ tƣ tƣởng làm đối trọng với Nho giáo, với hệ tƣ tƣởng của các triều đại phong kiến phƣơng Bắc. Ngay từ những buổi đầu, Phật giáo Việt Nam (Phật giáo Luy Lâu) đã mang trong mình những mầm mống để hình thành các khuynh hƣớng Phật giáo Việt Nam sau này.
Đó là khuynh hƣớng Phật giáo dân gian đƣợc bắt đầu từ Khâu Đà La, khuynh hƣớng thiền đã có từ Khƣơng Tăng Hội, khuynh hƣớng hoà đồng tam giáo lấy Phật giáo làm cơ sở của các vua Lý-Trần đã có mầm mống từ Mâu Tử trong “Lí hoặc luận”… Cái đầu tiên nguyên sơ, mộc mạc, nhƣng chứa đựng mọi cái đa dạng, phức tạp có thể phát triển sau này. z 7 Trong quá trình truyền bá đạo Phật ở Việt Nam trƣớc thế kỷ X, haidòng Thiền có ảnh hƣởng lớn nhất tới Phật giáo giai đoạn Lí – Trần là dòng thiền Tì Ni Đa Lƣu Chi và dòng Thiền Vô Ngôn Thông. * Dòng thiền Tì Ni Đa Lƣu Chi:. Năm 580, thiền sƣ ấn Độ là Tì Ni Đa Lƣu Chi sang truyền giáo và lập ra phái thiền thứ nhất ở Việt Nam.
Tác phẩm “Thiền uyển tập anh” đã ghi lại lai lịch của Tì Ni Đa Lƣu Chi nhƣ sau: “Thiền sƣ ngƣời miền Nam nƣớc Thiên Trúc dòng dõi Bà la môn, từ nhỏ đã có trí vƣợt lên thế tục, từng đi nhiều nơi trong nƣớc Tây Trúc mong đƣợc thiền tâm ấn của Phật nhƣng pháp duyên chƣa gặp gỡ, rồi ông lại xách gậy đi về phía Đông Nam. Năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Đại Kiến thứ sáu nhà Trần (Trung Quốc) lần đầu tiên đến kinh đô Trƣờng An gặp lúc Chu Vũ Đế tàn sát Phật giáo, ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam) hồi đó tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán lánh nạn đến ẩn ở núi Tƣ Không, gặp Tăng xán thấy phong độ phi phàm ông đem lòng kính mộ” [39. Nhƣ vậy, ông tổ sáng lập ra phái thiền thứ nhất ở Việt Nam là một tăng sĩ ấn Độ, nhƣng lại đƣợc Tăng Xán là vị tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa truyền pháp. Nhƣ vậy, thiền ở Việt Nam trở thành tông phái bắt đầu từ Tì Ni Đa Lƣu Chi.
Thiền phái này hình thành từ khi Tì Ni Đa Lƣu Chi sang Việt Nam năm 580, và đƣợc truyền thừa cho đến cuối thời Lý, đầu thời Trần, tức là tồn tại trong vòng 6 thế kỷ, gồm 19 thế hệ và 28 vị thiền sƣ còn đƣợc ghi lại đƣợc trong “Thiền uyển tập anh”. Những kinh điển Phật giáo mà các thiền sƣ của thiền phái này quan tâm, theo cả hai tài liệu Trung Quốc và Việt Nam đều nói rằng ông tổ của thiền phái này – Tì Ni Đa Lƣu Chi- đã dịch “kinh Tƣợng đầu” và “ Kinh Tổng trì”. Một số nhà nghiên cứu cho rằng kinh Tƣợng đầu (Gayasirsa) là kinh có tính chất thiền học, mang màu sắc của văn hệ Bát nhã, nói về bản chất của giác ngộ. Tổng trì là niệm tuệ lực có thể tổng nhiếp, chắp trì vô lƣợng Phật pháp.
z 8 Một số nhà nghiên cứu cho đây là kinh của Mật giáo, đang phát triển mạnh ở ấn Độ lúc đó. Nếu vậy, ngay từ đầu trong tƣ tƣởng của ngƣời khai tổ thiền phái này đã mang hai yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau, đó là thiền và mật, thể hiện qua một số thiền sƣ nhƣ Ma Ha, Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh. Trong phong cách của họ vừa thể hiện nhƣ một thiền sƣ lại vừa tu trì các yếu tố Mật giáo. Cuốn kinh điển nổi tiếng của hệ Bát nhã mà thiền phái này rất quan tâm là kinh Kim Cƣơng, (Kim Cƣơng bát nhã bà la mật).
Nội dung của bản kinh Kim cƣơng nói về một loại trí tuệ siêu việt viên mãn, có thể đƣa hành giả từ “bến mê sang bờ bến giác”. Đây là thiền phái giữ vững sự định tâm để cho trí tuệ Bát nhã (Prajna) vốn có trong mỗi hành giả xuất hiện, giúp hành giả chứng đƣợc thực tƣởng của vạn pháp. Qua đây ta thấy thiền sƣ Tì Ni Đa Lƣu Chi không đi theo hƣớng cực đoan “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, mà còn coi trọng cả kinh sách. Nói cách khác, thiền phái này là sự kết hợp giữa Thiền với Mật trên cơ sở nòng cốt là Thiền tông, yếu tố Mật giáo thấy bàng bạc ở nhiều nhà sƣ.
Và cũng nhờ yếu tố Mật giáo này mà phái Tỳ Ni Đa Lƣu Chi gần với tín ngƣỡng phong thuỷ, sấm kí, cầu đảo, điều phục tà ma, bốc thuốc chữa bệnh rất thịnh hành ở Trung Quốc và Việt Nam. Các nhà sƣ ở thiền phái này hầu hết đều xuất gia từ nhỏ (nhƣ Thanh Biện, Pháp Thuận, Pháp Dung…), có ngƣời đến tuổi trƣởng thành mới xuất gia (Vạn Hạnh, Trì Bát, Huệ Minh…). Có một số nhà sƣ thuở nhỏ học Nho sau mới theo Phật nhƣ Thiền Ông, Huệ Sinh, Viên Học. Cá biệt có ngƣời thi đỗ tiến sĩ sau mới xuất gia nhƣ Trí Thiền.
Các nhà sƣ trong thiền phái Tỳ Ni Đa Lƣu Chi đều là những trí thức lớn, họ giỏi cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán nhƣ Ma Ha, thông suốt tam giáo nhƣ Vạn Hạnh, Viên Thông… vì vậy họ có công phò vua giúp nƣớc dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ cố vấn cho vua, đứng ngang hàng các đại thần, thái tử. Sƣ Vạn Hạnh còn là trụ cột của triều đình. Nhiều nhà sƣ giúp dân chống hạn, chữa bệnh, bài trừ các hủ tục lạc hậu nhằm z 9 góp phần phát triển văn hoá, tuyên truyền điều thiện, giáo dục đạo đức lành mạnh. Nhiều thiền sƣ chẳng hạn nhƣ Trịnh Thiền, luôn nghĩ việc mƣu lợi dân sinh.
Với những đóng góp đó, các nhà sƣ đã góp phần to lớn tạo nên khuôn mặt văn hoá của nƣớc ta trong những buổi đầu dựng nƣớc và giữ nƣớc kéo dài cho đến thời Lý-Trần, thời kì phát triển vẻ vang nhất của lịch sử dân tộc. Tóm lại: về tông phái, thiền phái Tỳ Ni Đa Lƣu Chi là dòng Thiền đầu tiên ở Việt Nam còn thấy ghi lại đƣợc một cách tƣơng đối đầy đủ.