Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN 1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của thời Trần ở Việt Nam Trải qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã chứng minh được rằng: để trường tồn và phát triển trên mảnh đất đầy hiểm họa xâm lăng và có nguy cơ bị đồng hóa, ông cha ta phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để thực hiện quyền độc lập, tự do của mình. Một trong những sức mạnh tổng hợp đó chính là bản sắc văn hóa truyền thống, giá trị tinh thần dân tộc. Do đó, việc nghiên cứu tư tưởng Phật giáo thời Trần chính là đi tìm một trong những khía cạnh bản sắc, giá trị tinh thần của dân tộc để hiểu và tin tưởng vào truyền thống văn hóa tốt đẹp, lâu đời của dân tộc ta.
Trên cơ sở đó, biết chọn lọc để đáp ứng được nhiệm vụ mà Đảng ta đã đề ra cho lĩnh vực văn hóa là: xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong phạm vi đề tài, tác giả bắt đầu từ việc khái quát các điều kiện hình thành của Phật giáo ở thời đại nhà Trần.1 Điều kiện Lịch sử Mùa đông năm 938, với chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên Bạch Đằng giang đã chứng minh tinh thần yêu nước quật cường, sức đấu tranh bền bỉ và mưu lược tài ba của quân, dân ta. Đánh dấu một trang sử mới – trang sử độc lập, tự do của dân tộc. Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại sau chặng đường đấu tranh hơn mười thế kỷ nhằm thoát khỏi sự đô hộ của giặc phương Bắc là tài nguyên cạn kiệt, nhân dân mệt mỏi sau thời gian dài bị áp bức, cộng thêm những hậu quả của âm mưu đồng hóa,… đã đặt ra cho thế hệ đi đầu một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết.
Nhưng chính trên đống hoang tàn ấy, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần,… bằng ý chí kiên cường, tinh thần quật khởi, dân tộc ta đã từng bước xây dựng một nhà nước phong kiến độc lập ngày càng hùng mạnh. Mặc dù vậy, lịch sử dân tộc cũng không tránh khỏi những cuộc nội chiến với âm mưu thay thế triều đại, cụ thể sau thời kỳ hoàng kim, từ khoảng giữa thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn. Đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội 6 trầm trọng. Tình trạng nông dân và những người tự do ngày càng tồi tệ bởi một mặt, họ bị quan lại bóc lột nặng nề, sưu cao thuế nặng.
Mặt khác, thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh hoành hành khắp nơi làm cho nền kinh tế ngày càng sa sút dẫn đến tình trạng ở nhiều địa phương, các thế lực địa chủ phong kiến đã tập hợp lực lượng nổi dậy chống phá triều đình. Nổi bật trong số các thế lực cát cứ thời bấy giờ là tập đoàn quân sự của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình). Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật tự, gia tộc họ Trần được triều đình trọng dụng đã thao túng quyền bính và dần thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Năm 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh vừa mới bảy tuổi, rồi lên làm Thái Thượng hoàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo, lấy hiệu là Huệ Quang đại sư.
Theo sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng đã kết hôn với Trần Cảnh. “Mùa đông, tháng 12, ngày 12 năm Ất Dậu (1225) nhận thiền vị của Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung” [37, tr. 7] dưới sự giúp đỡ, ủng hộ của Trần Thủ Độ và họ hàng. Nhà Trần trải qua các triều vua đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm phát triển các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thúc đẩy xã hội tiến lên một bước đáng kể.
Dưới triều Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, nước ta ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, góp phần nâng cao vị trí nhà Trần trong lịch sử. Với sự khôn khéo của Trần Thủ Độ, chính quyền nhà Lý nhanh chóng chuyển sang họ Trần như một tất yếu vốn có của lịch sử. Do sự suy thoái của nhà Lý, sự tiếp nối của triều đại nhà Trần nhằm trả lời những câu đố mà lịch sử đặt ra cho con dân Đại Việt như: giải quyết tình trạng cát cứ, ổn định tình hình xã hội, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa – giáo dục. Và đó cũng chính là cơ sở quan trọng cho các nhà tư tưởng tiêu biểu của Phật giáo thời Trần xây dựng một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh.2 Điều kiện Kinh tế Cũng như thời Lý, các vua Trần chú trọng đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất.
Các hình thức sở hữu ruộng đất cơ bản thời kỳ nhà Trần là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân. Có hai bộ phận cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Một là, ruộng đất do nhà nước 7 trực tiếp quản lý, nó tồn tại như tài sản của bản thân nhà vua và hoàng cung, một loại “tư hữu” đặc biệt mà những hoa lợi bóc lột là của riêng hoàng đế. Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý có sơn lăng, tịch điền và quốc khố. Hai là, ruộng đất công của thôn làng: ruộng công các làng xã thời bấy giờ được gọi là quan điền hay quan điền bản xã.
Còn ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân được hình thành từ chính sách ban cấp ruộng đất của chính quyền nhà Trần, nét khác biệt cơ bản về tổ chức nhà nước so với triều Lý. Ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần ban cấp được gọi là thái ấp. Việc ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền nhà Trần. Nguồn đất ban đầu của thái ấp thuộc quyền sở hữu nhà nước, nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thuộc chiếm hữu tư nhân của các quý tộc.
Thái ấp thời Trần cũng là nơi ở bền vững của quý tộc và mãi mãi được lưu truyền, như lời Trần Hưng Đạo đã nói trong Hịch tướng sĩ rằng: “thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng” [41, tr. Ngoài thái ấp thì năm 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng cố thêm thế lực của quý tộc Trần, nhà Trần đã cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn đất hoang lập điền trang. Vương hầu có điền trang thực sự từ đấy. Về công cuộc trị thủy, để phục hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm diện tích canh tác.
Triều đình đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp, trong đó có tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nước. Nhà Trần đã cho xây dựng hệ thống đê đỉnh nhĩ và các dòng kênh tiêu úng. Năm 1248, Trần Thái Tông đặt cơ quan hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ. Đây là công việc quan trọng, một bước ngoặt to lớn trong lịch sử thủy lợi nước ta.
Đắp đê ngăn mặn cũng là công cuộc mới mẻ ở thời Trần, các nhà quý tộc thường cho nô tỳ đắp đê ở bãi biển lập điền trang. Công cuộc xây dựng thủy nông cũng được nhà Trần chú ý, ở những vùng Thanh Hóa và Nghệ An là nơi có nhiều công trình thủy nông. Năm 1248, Trần Nhân Tông lại cho đào sông Mã, sông Lễ và đục núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa, đây cũng là công việc tốn sức, tốn của. Năm 1256, triều đình cho khơi 8 lại sông Tô Lịch nhằm đảm bảo giao thông, đồng thời, để tưới tiêu cho các vùng xung quanh kinh thành.
Sang thế kỷ XIV nhiều công trình thủy nông vẫn tiếp tục được xây dựng. Về kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp, thủ công nghiệp nhà Trần bao gồm thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp tư nhân. Thủ công nghiệp nhà nước với nhiều ngành nghề như: sản xuất đồ gốm, dệt, chế tạo vũ khí. Các nghề thiết yếu như nghề làm gốm, rèn, đúc đồng, làm giấy và khắc bản in, mộc, xây dựng và khai khoáng thuộc về loại hình thủ công nghiệp tư nhân.
Mạng lưới thương nghiệp và thành thị ngay từ đầu đã được nhà Trần quan tâm, qua việc xây dựng nên một hệ thống giao thông thủy bộ trong cả nước. Hệ thống giao thông biển và trên bộ thời Trần phục vụ cho yêu cầu quân sự nhưng cũng có nhiều tác dụng tốt cho thương nghiệp. Đường bộ, đường thủy cho yêu cầu quân sự không còn do các địa phương và nhân dân tự phát xây dựng mà là công tác của chính quyền địa phương, của triều đình trực tiếp tổ chức, xây dựng. Đây được xem là bước tiến lớn so với thời Lý.
Để phát triển lưu thông hàng hóa các vua Đại Việt thời Lý - Trần đều đúc tiền. Ngoài ra, trên thị trường còn sử dụng nhiều tiền Trung Quốc. Nhà Trần đã mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, nộp tiền để lấy quan chức, việc đúc tiền do quan xưởng đảm nhiệm. Quan hệ tiền tệ đã thâm nhập vào đời sống chính trị và tín ngưỡng.
Nhà nước thu tô thuế bằng tiền, cũng đã thể hiện chức năng thanh toán của tiền tệ thời Trần đã phát triển rộng lớn. Thương nghiệp thời Trần tuy có bước phát triển mới nhưng chủ yếu vẫn là nền kinh tế tự cung, tự cấp. Tổ chức các phường thủ công ở Thăng Long còn rất đơn giản, còn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp. Ngoại thương do nhà nước độc quyền, hàng hóa trao đổi chủ yếu vẫn là sản phẩm của nền kinh tế tự nhiên, ít có sản phẩm thủ công.
Đến cuối thế kỷ XIV, khi nông nghiệp sa sút và nhà nước kiểm soát khắc khe việc buôn bán, sản xuất thủ công thì nền kinh tế hàng hóa rơi vào chỗ bế tắc. Với các chủ trương lớn nhằm mục đích khôi phục và phát triển kinh tế sau suy thoái. Chính quyền tôn thất họ Trần đã tạo ra những biến đổi trong thượng tầng kiến trúc nhà nước, góp phần thúc đẩy văn hóa, tinh thần, tư tưởng phát triển, tạo ra cho 9 xã hội một sinh khí mới, một sức mạnh mới có thể đương đầu với các cuộc ngoại xâm.3 Điều kiện Chính trị - Xã hội Nét độc đáo trong cơ chế chính trị thời Trần là chế độ “Lưỡng đầu” đã đạt đến mức hoàn chỉnh.