Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VE TRIEU ĐẠI NHÀ TRAN VÀ SỰ PHAT TRIEN CUA PHẬT GIÁO THỜI TRAN 1. Khái quát chung về triều dai nhà Trần Từ những năm cuối thé kỷ XII, sau gần ba thé kỷ tôn tại và phát triển hưng thịnh, nhà Lý bắt đầu bước vào thời kỳ suy yếu, không thé tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo quốc gia. Trong cảnh loạn ly của đất nước, thế lực họ Trần đã dần chinh phục được các lực lượng cát cứ nồi loạn, thâu tóm được moi quyền lực trong triều đình. Tháng Chạp năm Ất Đậu (1225), dưới sự đạo diễn đầy mưu lược của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng - vị vua cuối cùng của triều Lý đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh — Trần Thái Tông, lập ra triều đại nhà Trần.
Nếu không tính thời Hậu Tran, vương triều Trần tồn tại 175 năm, trải qua 12 đời vua, bắt đầu từ khi vua Trần Thái Tông lên ngôi năm 1225 và chấm dứt khi vua Thiếu đế, khi đó mới 5 tuổi, bị ép thoái vị nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly vào năm 1400. %* Chính trị kinh tế, xã hội. Nhà Tran thay nhà Lý đã mở ra một thời kỳ phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt. Khi bắt tay vào tổ chức, xây dựng triều chính, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, nhà Trần một mặt kế thừa những thành quả đã có từ đời trước, mặt khác đã có những thay đổi đáng ké dé phù hợp với hoàn cảnh và nhu cau thực tiễn.
Nhờ sự vững vàng mà năng động, chính quyền nhà Trần đã nhanh chóng tạo ra một nền thông nhất và ôn định cho đất nước. Về chính trị: Nhà Trần lên nắm quyền trong bối cảnh xã hội mục ruỗng mà nhà Lý để lại, nhu cầu bức thiết đặt ra là nhanh chóng ôn định chính trị, củng cố trật tự xã hội, một mặt nhằm đảm bảo lợi ích của giai cấp cầm quyền, mặt khác là thống nhất quốc gia dân tộc về cả tư tưởng và thể chế. Do đó, trong những năm đầu triều, các vua Trần ra sức xây dựng và từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, ban hành các bộ luật thành văn, củng cô lực lượng quốc phòng vững mạnh, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, lãnh đạo nhân dân chống lại giặc ngoại xâm. Dưới thời Trần, chính quyền trung ương ương tập quyền được tăng cường mọi mặt.
Nhà vua tự đề cao vị trí của bản thân, đồng nhất ngôi vua với đất nước. Triều đình Thăng Long trong thời gian này, trước hết là tổ chức chính quyền của tầng lớp quý tộc tôn thất họ Trần. Đề xây dựng, duy trì nền chính trị quân chủ tông tộc, nhà Trần đã thực hiện chế độ Thái Thượng Hoàng, chế độ thái ấp - điền trang và chế độ hôn nhân nội tộc. Ngoài kinh thành Thăng Long, Tức Mặc được xây dựng như kinh đô thứ hai của đất nước.
Theo chế độ Thái thượng hoàng, vua cha chỉ làm việc một số năm rồi lui về Tức Mặc, truyền ngôi báu lại cho con. Trên danh nghĩa, Thái thượng hoàng giữ vai trò có van cho vua trẻ, song thực chất là hai vua cùng tri vì thiên hạ, Thái thượng Hoàng vẫn là người quyết định mọi công việc của quốc gia. Triều đình đặt ra Phủ Tông Nhân chuyên trách quản lý trông coi về trật tự thế thứ của quý tộc họ Trần. Vua Trần Thánh Tông cử Nhân Túc Vương giữ chức nhập nội phán đại tông chính trông coi việc biên soạn gia phả và theo dõi, giúp đỡ người trong họ.
Các vương hầu ngoài việc độc quyền nắm giữ các chức vụ cao cấp trong triều đình còn được phái đi tran trị các lộ, phủ quan trọng. Phương thức tuyển dụng quan lại thời Trần chủ yếu là nhiệm tử, người năm chính quyền được bồ nhiệm theo ho hàng (mà trước hết là nội tộc). Tuy nhiên, do yêu cầu của việc xây dựng và quản lý đất nước, nhất là ở giai đoạn về sau, nhà Trần còn tuyên chọn quan lại qua thiw cử. Khối liên kết dòng họ Trần với bộ phận quan liêu ở các cấp chính quyền ngày càng được mở rộng.
Năm 1230, trên cơ sở khảo xét lệ của triều trước, nhà Trần cho biên soạn “Quốc triéu thông chế”, quy định bộ máy nhà nước có kỷ cương, hoàn chỉnh, phù hợp với tình hình mới. Sau nhiều lần sửa đổi, bố sung, nhà Tran ban hành “Quốc triéu hình luật”. Sau đó, mỗi triều vua lại b6 sung thêm. Năm 1244, nhà Trần định các điều về hình luật; Năm 1341, thời Trần Du Tông lai sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biện định bộ “Hinh Thu” trên cơ sở bộ Hình luật của thời Lý.
Về kinh tế: Chính quyền phong kiến nhà Tran đã thực sự tiễn thêm một bước trong việc xác định quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước trong toàn bộ ruộng đất của xã hội. Việc ban cấp thái ấp và ban hành điều lệ điền trang được xem là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tao ra cơ sở xã hội, thúc day quá trình phong kiến hóa về ruộng đất. Thái ấp là hình thức cấp bổng lộc của nhà Trần cho các quý tộc và triều thần có công. Theo các tài liệu ghi lại, quy mô thái ấp không lớn lắm, thường chỉ băng một hai làng.
Nhìn chung, nguồn đất ban đầu của thái ấp vốn là ruộng dat công làng xã hoặc ruộng hoang thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thuộc chiếm hữu tư nhân. Việc xây dựng các dinh thự của vương hầu ở thái ấp chứng tỏ nó gần như biến thành một làng riêng của người được cấp. Người chủ thái ấp được tùy tiện thu tô thuế của cư dan trong thái ấp. Tuy nhiên, sau khi chủ quản mắt, thái ấp không phải là tài sản thừa kế mà trở lại trạng thái một làng xã thông thường, chịu nghĩa vụ đối với nhà nước.
Bên cạnh thái ấp, điền trang là điểm dân cư đặc trưng của hình thái kinh tế xã hội thời Trần. Điền trang là những trang trại lớn của quý tộc thời Trần, do quý tộc trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động của gia nô, nô tỳ, có quyền thừa kế. Năm 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng diện tích canh tác, xây dựng và củng cố thêm thé lực quý tộc, triều đình xuống chiếu cho các vương hau, công chúa, pho mã cung tần được phép chiêu tập dân phiêu tán, không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang lập điền trang. Trong những diém dân cư ấy, ruộng đất được chia thành từng phần nhỏ, lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất.
Điền trang thời Trần được xem là khu vực kinh tế hỗn hợp của những hình thức bóc lột nông nô, nô tì và nông dân lệ thuộc. Ngoài ra, nhà Trần còn cho phép bán ruộng công cho nông dân thành ruộng tư, miễn giảm thuế mỗi khi thiên tai hoặc mùa màng thất bát,. nhờ đó sớm khắc phục tình trạng đói kém, loạn ly, phiếu tán, đồng thời tạo tâm lý cho người dân yên tâm sản xuat. Ngay khi vừa nắm chính quyền, để khôi phục sức sản xuất bị đình đốn từ cuôi thời Lý, vua quan nhà Trân đã có chính sách nhanh chóng phục hôi sản xuât 10 nông nghiệp, áp dụng nhiều biện pháp khuyến nông, trong đó có tổ chức khai khẩn đất hoang và làm thủy lợi trên phạm vi cả nước.
Năm 1248, Trần Thái Tông xuống chiếu đắp đê, lại đặt ra cơ quan Hà đê, có các chức Hà đê Chánh sứ và Phó sứ để trông coi đốc thúc việc đê điều ở các lộ phủ. Công việc sửa chữa đê điều hằng năm được coi là nghĩa vụ của toàn dân, không kế sang hèn hay già trẻ. Cùng với việc đắp đê phòng lũ lụt, nhiều vương hau, quý tộc và cư dân ven bién thời Trần còn ra sức đắp đê ngăn mặn dé mở mang diện tích. Bên cạnh đó, nha nước còn chú ý tới công cuộc xây dựng thủy nông như khơi sông Tô Lịch, sông Thiên Đức, đào sông ở Thanh Hóa, Nghệ An.
Những công trình trị thủy và thủy nông của nhà nước cùng nhiều đê đập, kênh ngòi mà nhân dân tự làm đã tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp thời Trần. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực thủ công nghiệp, nhà Trần vẫn tiếp tục duy trì chế độ Quan xưởng có từ thời Lý với nhiều ngành nghề khác nhau như nghề dệt, nghề gốm và chế tạo vũ khí. Bên cạnh đó là sự phát triển của thủ công nghiệp nhân dân trong một số ngành nghề thiết yếu. Nét đặc trưng nỗi trội của thời kỳ này là sự định hình những trung tâm gốm sứ - đất nung lớn như Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), Vĩnh Ninh Trường (Thanh Hóa).
Đồng thời, nhờ sự mở rộng hệ thống giao thông thủy bộ và việc đưa tiền tệ trở thành phương tiện lưu thông hàng hóa nên thương nghiệp và thành thị có sự phát triển mạnh mẽ với mạng lưới các thương cảng và hệ thông chợ, phố kết hợp ở các địa phương. Sự phát triển kinh tế ở Kinh thành Thăng Long và các vùng ven vô cùng nhộn nhịp. Người buôn bán và sản xuất chủ yếu là người trong các phường ở Thăng Long. Ngoài ra, còn có thương nhân nước ngoài, chủ yếu là người Tống.
Tuy nhiên, đô thị thời ky này không chỉ có Thăng Long ma còn có khu Tức Mặc — Thiên Trường, cảng Vân Đồn, cảng Thanh — Nghệ - Tĩnh. Những phát hiện khảo cổ học của các nhà nghiên cứu Việt Nam và Nhật Bản tại Hà Tĩnh đã cho thấy Sự giao thương tập nap của các cảng thị Bắc Trung Bộ với quốc tế từ thé ky XIII — XIV. Nhìn chung, sự khôi phục và phát triển trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã giúp Đại Việt thời Trần đảm bảo 11 thực túc binh cường, tạo nền tảng vững chắc dé xây dựng nên chính trị vững mạnh, xã hội 6n định, đất nước thái bình. Về xã hội: Trên cơ sở sự phân hóa xã hội theo hướng phong kiến kiểu Trung Hoa đã diễn ra từ thời Bắc thuộc và không ngừng được đây mạnh dưới các vương triều trong giai đoạn đầu giành được nền độc lập, xã hội Đại Việt thời Trần cũng có sự phân hóa mạnh mẽ, biến động sâu sắc về mặt kết cấu giai cấp.
Tuy nhiên, trong thời kỳ thái bình thịnh trị đầu triều Trần, các giai tầng trong xã hội không hề nảy sinh mâu thuẫn mà chung sống rất hài hòa.