phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được bố cục thành 4 chương, 15 tiết. 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN Nghiên cứu về Phật giáo, Phật giáo Việt Nam và tín ngưỡng dân gian Việt Nam lâu nay không chỉ giành được sự quan tâm của các nhà tu hành, mà còn được đông đảo các học giả ở các lĩnh vực khác nhau như triết học, sử học, tôn giáo học, văn hóa học, v. trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu, với các tên tuổi nổi tiếng như: Kimura Taiken, K.SriDhammananda…, Trần Trọng Kim, Nguyễn Lang, Nguyễn Tài Thư, Hà Văn Tấn, Nguyễn Duy Hinh, Lê Mạnh Thát, Nguyễn Đăng Thục, Ngô Đức Thịnh, Trần Lâm Biền, Nguyễn Minh San, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Hùng Hậu.; hoặc các công trình của các nhà sư như: Hoà thượng Thích Minh Châu, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Đồng Bổn,. Có thể chia các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án thành các mảng vấn đề sau: 1.
Những công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam Đầu tiên phải kể đến 2 công trình viết về Phật giáo tiêu biểu của học giả người Nhật Bản Kimura Taiken: Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận và Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận, do Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch. Là người chuyên nghiên cứu về triết học Ấn Độ, với khối lượng các tác phẩm có tên tuổi về triết học và Phật giáo, Kimura Taiken đã trình bày lịch sử, những đặc trưng tư tưởng cũng như các phái bộ căn bản của Phật giáo. Kimura Taiken đã chỉ ra tư tưởng căn bản nhất của đạo Phật: “Phật giáo, tuy lấy Đức Phật làm trung tâm, nhưng đức Phật, dù là Phật lý tưởng chăng nữa cũng không giống như vị thần của các tôn giáo khác, hoặc là các vị thần thiên nhiên mà chỉ được coi là do sức tu hành của người ta đã đạt đến quả vị Phật mà thôi” [37, tr. Sau khi luận giải các quan niệm về Phật, pháp, duyên sinh, tâm, trung đạo, 11 ông đi đến kết luận rằng: “Tinh thần căn bản của Phật giáo là căn cứ trên cái tâm để nhận định pháp tắc duyên sinh, rồi lại căn cứ vào pháp tắc duyên sinh để phê phán sự vật một cách có lý luận và thực tiễn” [37, tr.
Công trình Đạo Phật và đời sống hiện đại của K. Sri Dhammananda - một học giả uyên bác và cũng là Đại lão Hòa thượng tăng thống Mã Lai (Thích Tâm Quang dịch, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) bao gồm các bài giảng về đạo Phật và đời sống hiện đại, quan niệm về Thượng Đế, đức Phật, từ bỏ thế tục, niềm tin và sự hành đạo tại Ấn Độ thời cổ đại, các thuật ngữ trong tôn giáo. Tác giả đã chứng minh rõ quan điểm cũng như việc triển khai của đạo Phật trên mọi lĩnh vực của đời sống hiện tại như tư tưởng về xã hội, kinh tế, an sinh, khoa học, môi sinh.
Đặc biệt trong phần nói về đạo đức và xã hội, tác giả khẳng định: trong đạo Phật, ta thấy một hệ thống đạo đức toàn diện. Nó thích hợp cho mọi tầng lớp: với người bình thường, nó cung cấp một quy tắc luân lý, một sự thờ phụng đầy đủ và một niềm hy vọng một cuộc sống tại thiên đường; với người nhiệt tình sùng đạo, nó là một hệ thống tư tưởng trong sạch, một triết lý cao thượng và những lời giáo huấn về đạo đức đưa đến giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau. Như vậy, ở đây, tác giả nhấn mạnh giáo lý căn bản của đạo Phật vẫn là sự tự thanh tịnh hóa con người. Sự tiến bộ về tinh thần không thể đạt được cho một người không có một cuộc sống trong sạch và từ bi.
Đức Phật chỉ cho các đệ tử thấy trên thế giới này cái gì là phải, cái gì là trái, cái gì tốt, cái gì xấu. Cuốn sách có ý nghĩa tham khảo cho luận án. Tuy nhiên, đây chỉ là những bài giảng rất ngắn gọn của một vị hòa thượng cho các đệ tử của mình, do vậy, những chứng minh cho vai trò của đạo Phật trong đời sống hiện đại còn rất sơ sài. Trong những nhà nghiên cứu Việt Nam về Phật giáo, đầu tiên phải kể đến tác giả Trần Trọng Kim với 3 công trình tiêu biểu là Phật lục ( Nxb Lê Thăng, Hà Nội, 1940).
Công trình này khái quát về đạo cứu thế của nhà Phật, 12 ý nghĩa thờ phụng chư Phật và Bồ tát trong chùa cùng với các điển tích Phật giáo); Phật học ( Nxb Tôn giáo, 2007) giới thiệu về đạo cứu thế của nhà Phật, ý nghĩa thờ phụng chư Phật và Bồ tát ở trong chùa; cách bài trí tượng Phật ở một số chùa tiêu biểu ở Việt Nam và Phật giáo ( Nxb Tôn giáo, 2010) trình bày khái quát về lịch sử của đạo Phật, những điều cốt yếu trong Phật pháp và mối quan hệ của đạo Phật với cuộc sống nhân sinh; sơ lược về thuyết thập nhị nhân duyên của Phật giáo, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa. Công trình đã cung cấp khá nhiều thông tin có giá trị về các điển tích, những liên hệ căn bản của Phật giáo với đời sống xã hội qua đó thể hiện sự tác động của nó. Cũng không thể không nhắc đến tác giả Nguyễn Đăng Thục với bộ ba tác phẩm: Lịch sử triết học phương Đông (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991), trong đó, tác giả đã dành hẳn một tập (tập 3) để khảo cứu về triết học Ấn Độ, từ Phật đà đến Phật nguyên thủy. Không sa đà vào các tiểu tiết lịch sử, tác giả đã trình bày thẳng vào bốn nội dung căn bản trong giáo lý Phật giáo, đó là: Tứ diệu đế, thuyết về ngã, nghiệp báo luân hồi, ba thế giới và ý nghĩa của Niết bàn.
Những nội dung giáo lý này, theo đánh giá của tác giả, như một phương thuốc chữa bệnh hữu hiệu nhất: “đáp trúng lời kêu gọi của nhân dân bằng sự đi tìm phương thuốc cứu chữa cho đau khổ ở cái Pháp (Daharma)” [100, tr. Công trình Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản (Nxb. Khoa học Xã hội, 1988), là công trình trình bày tương đối kinh điển về lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập (đầu Công nguyên) đến nửa đầu thế kỷ XX qua các giai đoạn, từ dòng thiền thứ nhất (Tì-ni-đa-lưu-chi và Pháp Hiền) đến dòng thiền thứ hai (Vô Ngôn Thông, Cảm Thành và Thiện Hội); từ Phật giáo thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đến thời Lý- Trần; từ Phật giáo thời Hậu Lê đến thời Tây Sơn, triều Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc. Mặc dù là công trình trình bày về lịch sử 13 du nhập và phát triển cũng như các giai đoạn thăng trầm của Phật giáo Việt Nam, nhưng công trình này cũng khắc họa được nhiều nét tiêu biểu sự ảnh hưởng, tác động của tư tưởng Phật giáo đến các nhà tư tưởng Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, như: “ảnh hưởng của Phật học đã vào thơ Nguyễn Trãi làm phong phú tâm hồn, tình cảm…làm nên khía cạnh từ bi đã hun đúc trong Nguyễn Trãi lòng yêu nước, thương dân” [101, tr.
Cùng mục đích làm rõ lịch sử của Phật giáo ở Việt Nam, bộ sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, gồm 3 tập (Nxb TPHCM, 2005, 2006) đã phác họa một cách rõ nét diện mạo của Phật giáo Việt Nam qua những đặc điểm và các trường phái cơ bản, bắt đầu từ Phật giáo thời Hùng Vương cho đến Tuệ Trung thượng sĩ và vua Trần Thánh Tông. Sự biên soạn công phu của tác giả của công trình này đã cung cấp nhiều nội dung cơ bản trong giáo lý và các truyền thuyết của Phật giáo Việt Nam như: Từ Khâu-đà-la, Man Nương, đức Phật Pháp Vân….đến các cao tăng như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Huệ Lâm, Không Lộ, Giác Hải, vua Trần Thái Tông, Quốc sư Phù Vân, Tuệ Trung thượng sĩ và vua Trần Thánh Tông. Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam, không thể không kể ra những vị chân tu, có đóng góp nhiều cho Phật pháp và xã hội trên con đường tu tập của mình. Liên quan đến nội dung này phải kể đến Nguyễn Lang với 3 tập Việt Nam Phật giáo sử luận ( Nxb Văn học, 2010)… Đây là những công trình nghiên cứu mà tác giả đã rất thành công khi trình bày khéo léo tiểu sử của các vị tu hành với những dấu ấn tư tưởng của họ để khắc họa nên dáng nét riêng, là linh hồn, là bản sắc của Phật giáo Việt Nam.
Nó làm sống dậy không khí cũng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo qua các thời đại, làm nên một bức tranh sống động của Phật giáo Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, là nguồn tài liệu có giá trị trong tham khảo những biến chuyển của Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ và những tác động cũng như ảnh hưởng không nhỏ của nó xã hội Việt Nam trong lịch sử. 14 Cuốn Đại cương triết học Phật giáo của Thích Đạo Quang, Nxb Hương Sen (không rõ năm xuất bản) lại bàn sâu về nội dung giáo lý của Phật giáo ở khía cạnh triết học. Đây là cuốn sách do một nhà tu hành biên soạn, dựa trên những giáo lý căn bản của Phật giáo, nhưng được triển khai dưới góc nhìn triết học. Cuốn sách chia thành ba tập: Tập thứ nhất, Tự luận; Tập thứ hai, Bản luận; Tập thứ ba, Các luận, đã luận giải một cách khái quát những nội dung tư tưởng căn bản của Phật giáo như: thuyết duyên khởi; thuyết thật tướng; vấn đề giải thoát…v.
Bàn về đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã rất cố gắng khi từ những biểu hiện sinh động trong thực tiễn của Phật giáo Việt Nam khái quát nên những điểm nhấn đặc thù. Trong công trình Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (Nxb. Khoa học Xã hội, 1998), nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh với bài viết Về hai đặc điểm Phật giáo Việt Nam đã bàn sâu về hai đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam, đó tính dân gian và tính thống nhất. Theo tác giả, hình tượng ông Bụt của truyện cổ dân gian phản ánh khá rõ nét tính dân gian của Phật giáo.
Tính dân gian tập trung trong tư tưởng từ bi của Phật giáo, diễn đạt dân gian là cứu khổ cứu nạn. Trong thời kỳ triều đình phong kiến đề cao Nho giáo thì chùa làng vẫn tồn tại (cho đến tận ngày nay) - đó chính là Phật giáo dân gian.