Chương 1 Tín Đồ Các TÔN Giáo ở Tỉnh Quảng Ngãi - Tình Hình Và Đặc Điểm 1. Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi tác động đến đời sống vật chất - tinh thần của tín đồ các tôn giáo Nằm trong địa phận của các tỉnh miền Trung Trung Bộ, tỉnh Quảng Ngãi gần như ở khoảng giữa hai đầu của đất nước. Theo quốc lộ 1A về phía bắc cách Thủ đô Hà Nội 883km; về phía nam cách thành phố Hồ Chí Minh 838 km. Từ 14 032'40'' - 15025' độ vĩ bắc và từ 108006' - 109004'35'' độ kinh đông [24, tr.
2], tỉnh Quảng Ngãi giáp với tỉnh Quảng Nam ở phía bắc; giáp với tỉnh Bình Định ở phía Nam; về phía Tây, tỉnh Quảng Ngãi bị ngăn cách với tỉnh Kontum bởi các chi nhánh của dãy núi Trường Sơn hùng vĩ; về phía Đông giáp mặt với biển Đông. Tỉnh Quảng Ngãi có bờ biển dài 130km, bờ biển quanh co và khúc khuỷu tạo ra nhiều cửa lạch, vũng Vịnh. Đó là nơi cư trú thuận lợi của nhiều tàu, thuyền hoạt động trên vùng biển Quảng Ngãi. Đặc biệt, có vũng nước sâu Dung Quất được Nhà nước Trung ương chọn làm nơi xây dựng nhà máy lọc dầu và xây dựng Cảng biển nước sâu.
Diện tích tự nhiên 5.135,51 km2, tỉnh Quảng Ngãi có chiều dài theo hướng Bắc - Nam gần 100km, có chiều rộng theo hướng Đông - Tây là 60km [24, tr. Địa hình của tỉnh nghiêng từ Tây sang Đông và hội đủ bốn khu vực: Đồng bằng, trung du, miền núi và hải đảo - chính vì sự phức hợp và đa dạng này đã tạo cho tỉnh Quảng Ngãi mang những đặc điểm có tính chất đặc thù cho từng vùng, từng khu vực. Do vậy, khó có thể có chung một chiến lược mang tính đồng bộ trong lãnh đạo, quản lý địa phương. Từ đó dẫn đến tác động dây chuyền gây ảnh hưởng đến tình hình đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của nhân dân địa phương.
Tỉnh Quảng Ngãi có 4 con sông lớn, nhưng nhìn chung sông ngòi của tỉnh có độ đốc cao(từ 100,5 đến 330) và ngắn, lưu lượng thấp nên nước thường dâng cao vào mùa mưa, khô cạn vào mùa khô. Để khắc phục tình trạng này, sau ngày đất nước thống nhất, được sự giúp đỡ của Trung ương năm 1976 tỉnh Quảng Ngãi khởi công xây dựng công trình thủy lợi Thạch Nham trên thượng nguồn sông Trà Khúc để đưa nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ở các huyện đồng bằng trong mùa khô cạn. Do địa hình nghiêng nên mùa mưa thường xảy ra hiện tượng lũ ở miền núi khiến cho đất đai canh tác vốn đã bạc màu lại càng bị xói mòn nghiêm trọng. Theo bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh Quảng Ngãi thì hiện nay trong toàn tỉnh có 68 loại đất khác nhau, nhưng nhìn chung chất lượng đất trồng trọt thuộc loại trung hình so với cả nước.
Về khí hậu, thời tiết chủ yếu là khắc nghiệt, một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa thì gây ra lũ, lụt lớn, mùa nắng dễ gây ra hạn hán kéo dài. Như vậy, điều kiện tự nhiên ở Quảng Ngãi là bất lợi cho đời sống của nhân dân, vốn là một địa phương có cư dân nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao. Chúng ta đều biết rằng, khó khăn về đời sống kinh tế chính là mảnh đất tốt để cho tín ngưỡng, tôn giáo sinh sôi, nẩy nở.
Song tùy theo biên độ nhiệt của tình hình chính trị mà đời sống tín ngưỡng, tôn giáo có những biểu hiện (sôi nổi hoặc thầm lặng) khác nhau, mang những mục đích khác nhau. Vì lẽ đó mà cũng có thể nói rằng: tác động xấu của điều kiện địa lý tự nhiên là tiền đề cho sự phát sinh tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng điều có tính quyết định cho sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo chính là do tác động của yếu tố xã hội. Theo "Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam" thì tỉnh Quảng Ngãi nguyên là đất Cổ Lũy của Chiêm Thành.
Năm 1402 Hồ Quý Ly cất binh đánh Chiêm Thành, chiếm phần đất Cổ Lũy và chia Cổ Lũy thành hai châu: Châu Tư và Châu Nghĩa trực thuộc lộ Thăng Hoa của nước Đại Ngu- Bên cạnh binh sĩ và quan lại trấn giữ, nhà Hồ đưa dân Việt ở Nghệ An và Thuận Hóa vào định cư, sinh sống lâu dài [65, tr. Từ đó, trên đất Cổ Lũy ngoài các tộc người bản xứ còn có thêm người Việt cùng sinh sống. Đến đời Hồng Đức, hai Châu Tư và Nghĩa được đổi thành phủ Tư Nghĩa trực thuộc thừa tuyên Quảng Nam. Đời Tây Sơn, phủ Tư nghĩa được đổi thành trấn hòa Nghĩa.
Năm 1808, Gia Long đổi trấn Hòa Nghĩa thành trấn Quảng Nghĩa. Vì kỵ tên húy của Nguyễn Phúc Toản nên trấn Quảng Nghĩa được đổi thành trấn Quảng Ngãi. Năm 1832 trấn Quảng Ngãi được đổi thành tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ vào hai câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ: "Từ thuở mang gươm đi mở cõi Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long" Cũng minh chứng được rằng con người đất Quảng ngày nay chính là hậu duệ của các đấng hào kiệt ở đất kinh kỳ ngày xưa "Cầm gươm đi mở cõi".
Do kế thừa truyền thống bất khuất, ngoan cường của cha ông, nên quê hương Quảng Ngãi được mệnh danh là tỉnh nổi tiếng với phong trào chống thuế (1901); phong trào cộng sản và cách mạng. Đặc biệt, trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, tỉnh Quảng Ngãi đã trở thành vùng chiến khu kiên cường của Liên khu V. Tiếp nối truyền thống ấy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua quân dân tỉnh Quảng Ngãi cũng ghi được những chiến công rực rỡ rất đáng tự hào: Chiến thắng Ba Gia; chiến thắng Vạn Tường. góp phần tô thêm những trang sử chống ngoại xâm kỳ diệu của dân tộc! Đi liền với truyền thống và lịch sử ấy, quê hương Quảng Ngãi cũng sản sinh ra những nhân vật lừng danh một thời như: Trương Quyền, Trương Định, Trương Quang Trọng, Nguyễn Bá Loan, Phạm Văn Đồng, Phạm Kiệt, Trần Quí Hai, Trần Văn Trà.
đó là niềm tự hào tiêu biểu của quê hương và đất nước. Năm 1945, tỉnh Quảng Ngãi được mang tên tỉnh Lê Trung Đình - tên của một chiến sĩ cách mạng sinh ra trên đất Quảng Ngãi. Nhưng sau đó đổi tên tỉnh thành tỉnh Quảng Ngãi để thống nhất về mặt tổ chức hành chính của cả nước. Tháng 11/1975, tỉnh Quảng Ngãi sáp nhập với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình.
Đến tháng 7/1989, tách tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh độc lập là Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định. Dựa vào kết quả sơ bộ của cuộc "Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999" dân số tỉnh Quảng Ngãi có 1.000 người, chiếm 1,6% dân số của cả nước. Với 17 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc kinh chiếm số đông 87,8%; dân tộc H're có 8,58%; dân tộc Cor có 1,8%; dân tộc Xêđăng có 0,7% các dân tộc khác có tỷ lệ 0,12% [24, tr. Trong 13 huyện (thị) của tỉnh Quảng Ngãi thì có 6 huyện (thị) ở khu vực đồng bằng; 1 huyện trung du, 1 huyện hải đảo và 5 huyện miền núi.
Dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở đồng bằng chiếm 83,8% còn ở miền núi, hải đảo dân cư thưa thớt chiếm 16,3% dân số của tỉnh. ở các vùng đồng bằng, trung du và hải đảo đại đa số là dân tộc kinh., có đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội thuận lợi và tiến bộ hơn so với các dân tộc ít người ở miền núi. Dù ở khu vực lãnh thổ nào đi nữa, nhìn chung cư dân Quảng Ngãi chủ yếu vẫn là cư dân nông nghiệp. Do vậy, yếu tố cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ cũng ít nhiều chi phối đến đời sống mọi mặt của con người.
Tuy nhiên so với bản quán tổ tiên thì tính cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ không bị ràng buộc chặt chẽ mà chỉ là cái nghĩa, cái tình trong quan hệ giữa con người với con người trong một cộng đồng. Những truyền thống quí báu của tổ tiên cũng được lưu truyền và ứng dụng vào đời sống ở vùng đất mới, tất nhiên phải qua sự chọn lọc và phát triển phù hợp với đời sống văn hóa bản địa. Đối với đời sống tín ngưỡng và tôn giáo, người dân Quảng Ngãi cũng mang đầy đủ những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của một cư dân nông nghiệp đa thần: ở vùng biển, người dân coi trọng việc xây dựng Lăng, Miếu thờ cá voi (cá Ông) với những nghi thức long trọng và trang nghiêm. Cư dân ở đồng bằng và trung du vẫn dựng đình, miếu để thờ Thành Hoàng của làng, xã; còn cư dân miền núi vẫn bảo lưu đậm nét những tín ngưỡng đa thần nguyên thủy của họ.
Có thể nói rằng, Quảng Ngãi là một tỉnh bị tàn phá ác liệt bởi nhiều cuộc chiến tranh liên tiếp, kéo dài; lại thêm điều kiện thiên nhiên, thời tiết khắc nghiệt, nên tỉnh Quảng Ngãi rất khó khăn trong việc phục hồi và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tại Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần XVI (9/2000) có nêu: Nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt thấp - nông nghiệp phát triển chưa toàn diện, tỉ suất hàng hóa thấp, các ngành công nghiệp, dịch vụ còn nhiều mặt yếu, năng lực cạnh tranh kém- văn hóa, xã hội tuy có chuyển biến nhưng có mặt còn chậm, chất lượng thấp, đời sống của một bộ phận dân cư nhất là đồng bào miền núi còn nhiều khó khăn [1, tr. Phản ánh bức tranh kinh tế - văn hóa- xã hội như trên quả là vấn đề còn nan giải, cần phải không ngừng phấn đấu cật lực hơn nữa mới mong đem lại ấm no và hạnh phúc cho mọi người. Sống trên mảnh đất không mấy thuận lợi, thường xuyên chống chọi với thiên nhiên, chống và khắc phục hậu quả của chiến tranh khiến cho con người Quảng Ngãi đã quen chịu đựng gian lao, vất vả.
Song, không phải vì vốn có đức tính chịu đựng gian khổ mà con người không cần cầu viện đến một sức mạnh bên ngoài làm trợ thủ, cứu giúp họ. Với 17 tộc người khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ ắt phải có cách nghĩ, cách nhìn về đời sống tâm linh của mình bên cạnh đời sống tâm linh của người khác. Chính vì vậy mà sự giao lưu, đan xen về tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của các cư dân ở tỉnh Quảng Ngãi là điều dễ hiểu.