CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA V. LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO V. Lênin đã phát triển về mặt lý luận và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề tôn giáo vào điều kiện cụ thể của nƣớc Nga sau Cách mạng tháng Mƣời, đề ra những chính sách đúng đắn đối với vấn đề tôn giáo. Ngoài ra, Lênin còn kế thừa quan điểm của các nhà triết học duy vật trƣớc Mác, nhất là các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII.
Chính Lênin đã từng căn dặn cần phải dịch các tác phẩm vô thần của họ để phổ biến cho quần chúng nhân dân. Do đó, để có thể hiểu một cách sâu sắc quan điểm và chính sách tôn giáo của Lênin, trƣớc hết chúng ta cần phải khái quát một số quan điểm cơ bản của các nhà triết học trƣớc Mác và sau đó cần hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề này. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC DUY VẬT TRƢỚC MÁC VỀ TÔN GIÁO Ngay từ thời cổ đại, bên cạnh những quan điểm triết học duy tâm hữu thần, cũng đã xuất hiện nhiều quan điểm ít nhiều duy vật vô thần phủ nhận một phần hay toàn bộ niềm tin vào thần thánh, Thƣợng đế. Ở Ấn Độ có trƣờng phái Charvaka (hay Lokayata) phủ nhận sự tồn tại của Brahman (linh hồn vũ trụ tối cao) và linh hồn cá thể bất tử Atman, chế nhạo quan niệm tôn giáo về sự giải thoát và mƣu cầu hạnh phúc ở kiếp sau.
Ở Trung Quốc cổ đại, Tuân Tử đƣợc coi là nhà triết học duy vật vô thần xuất sắc. Ông phủ nhận niềm tin vào Mệnh Trời , số mệnh và những biểu hiện mê tín dị đoan, khuyến khích nổ lực chủ quan của con ngƣời trong sản xuất, giữ gìn sức khỏe. Ở Hy Lạp, tƣ tƣởng duy vật vô thần có thể tìm thấy trong thuyết nguyên tử của Đêmôcrit, Êpiquya. Đặc biệt, Êpiquya đã đƣa ra lập luận về sự tồn tại thực tế của điều ác trong thế giới để luận chứng cho sự phi lý của quan niệm về sự tồn tại của một vị Thƣợng đế toàn năng, toàn đức.
Luan van 8 Ở phƣơng Tây trong thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của khoa học và chủ nghĩa duy vật, một số nhà triết học duy vật, nhất là các nhà triết học trong nhóm Bách khoa toàn thƣ Pháp, nhƣ Montesquieu, La Mettrie, Rousseau, Diderot, Holbach, v., đã chứng minh về mặt lý luận cho quan điểm vô thần của họ. Tác phẩm Hệ thống của tự nhiên (La système de la nature) của Baron d'Holbach (1723 - 1789) đƣợc coi là inh vô thần đã vạch ra nguồn gốc và tƣơng lai của tôn giáo. Trong tác phẩm này Holbach đã thực sự đóng góp cho lý luận triết học vô thần ở mấy điểm sau; - Vũ trụ là vật chất tồn tại khách quan cùng với với thuộc tính gắn liền với vật chất là vận động; vật chất và vận động là không có khởi đầu và kết thúc, qua đó Holbach bác bỏ quan niệm phi lý về sự sáng tạo từ hƣ vô của Thƣợng đế. - Với luận điểm Con ngƣời là sản phẩm của tự nhiên , Holbach bác bỏ quan niệm tôn giáo về sự sáng tạo của Thƣợng đế và tội tổ tông của con ngƣời.
- Với luận điểm Sự dốt nát đẻ ra các vị thần , Holbach luận chứng cho nguồn gốc nhận thức của tôn giáo. Đồng thời Hobach cũng có đề cập đến một số khía cạnh về nguồn gốc xã hội của tôn giáo nhƣng chƣa đƣợc sâu sắc. - Holbach dự kiến trong tƣơng lai, sự phát triển đầy đủ của khoa học sẽ loại bỏ đƣợc niềm tin vào sự tồn tại của thần thánh [17, 434-438]. Đặc biệt tác phẩm của Feuerbach Bản chất của itô giáo đã có ảnh hƣởng lớn đến quan điểm duy vật, vô thần của Mác và Ăngghen lúc bấy giờ và Lênin sau này.
Trong Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức , Ph. Ăngghen viết: Luan van 9 Giữa lúc ấy, tác phẩm của Feuerbach Bản chất của đạo Cơ đốc ra đời. Tác phẩm này đã giáng một đòn phá tan ngay những mâu thuẫn nói trên, đƣa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua. Tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học.
Nó là cơ sở trên đó con ngƣời chúng ta - bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trƣởng. Ngoài tự nhiên và con ngƣời ra, không còn có gì nữa cả, và những tạo vật cao siêu do trí tƣởng tƣợng tôn giáo của chúng ta nặn ra, chỉ là những phản ánh hƣ ảo của chính thực thể của chúng ta thôi. Feuerbach kế thừa các quan điểm duy vật thế kỷ XVIII khi cho rằng con ngƣời sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải ngƣợc lại. Chính điều này đƣợc chủ nghĩa Mác - Lênin lấy làm điểm xuất phát trong việc xem xét nguồn gốc của tôn giáo.
Chính Mác đã khẳng định điều này trong Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Mác viết: Căn cứ của sự phê phán chống tôn giáo là: con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con ngƣời. Feuerbach chỉ ra sự tha hóa của con ngƣời trong ý thức tôn giáo. Con ngƣời đã đánh mất bản chất của chính mình trong lòng tin tôn giáo.
Con ngƣời vốn có đầu óc sáng tạo, bản chất lƣơng thiện, nhƣng trong niềm tin tôn giáo con ngƣời đã đem bản chất tốt đẹp đó của mình gán cho thần thánh và coi mình là một sinh vật bất lực, xấu xa, tội lỗi; chỉ có thần thánh, Thƣợng đế mới là toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ. Theo Feuerbach, ý thức tôn giáo chính là sự tha hóa của con người trong tự ý thức v chính mình. Điều này đã đƣợc chủ nghĩa Mác-Lênin kế thừa trong quan điểm tôn giáo của mình. Mác cũng đã khẳng định điều này trong Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp quy n của Hêghen: Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con ngƣời chƣa tìm thấy Luan van 10 bản thân mình hoặc đã lại đánh mất bản thân mình một lần nữa.
29, 569 - 570] và trong Bản thảo kinh tế - triết học 1844: Trong tôn giáo, tình hình cũng hoàn toàn giống nhƣ vậy. Con ngƣời hiến cho thần thánh càng nhiều, thì cái còn lại trong bản thân con ngƣời càng ít. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ TÔN GIÁO 1. Về bản chất của tôn giáo Chủ nghĩa Mác-Lênin, xem xét tôn giáo ở hai khía cạnh: Một là, ý thức tôn giáo bao gồm giáo lý, niềm tin; hai là, thiết chế tôn giáo bao gồm tổ chức, giáo hội, v.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, tôn giáo là một hiện tƣợng xã hội đa dạng, phức tạp gắn liền với những lĩnh vực khác nhau trong đời sống con ngƣời; là một hình thái ý thức xã hội do con ngƣời sáng tạo ra. Tôn giáo là sự sáng tạo, nó phản ánh hƣ ảo, ảo tƣởng, sự tƣởng tƣợng, là thế giới quan lộn ngƣợc của con ngƣời với những sức mạnh bên ngoài chi phối họ. Tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một thiết chế xã hội. Song xét về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nó phản ánh một cách hoang đƣờng, hƣ ảo, lệch lạc hiện thực khách quan vào đầu óc con ngƣời.
Tôn giáo là một nhu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Nó không chỉ là việc đạo, nó còn là việc đời. Tôn giáo là một một hình thái ý thức xã hội của con ngƣời, nhƣng lại là một hình thái có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng nhƣ hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngƣỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng.
Tôn giáo thƣờng đƣa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con ngƣời vƣơn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy đƣợc thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ… Rất khó đƣa ra đƣợc một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con ngƣời về tôn giáo nhƣng có thể thấy rõ rằng khi nói đến Luan van 11 tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hƣ, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch [48]. Tóm lại đã nói đến tôn giáo thì dù đƣợc hiểu theo nghĩa nào cũng bàn đến vấn đề hai thế giới thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của ngƣời sống và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh , Ph. Ăngghen đã có một nhận xét giúp chúng ta thấy rõ bản chất của ý thức tôn giáo nhƣ sau: Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hƣ ảo – vào trong đầu óc của con ngƣời – của những lực lƣợng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lƣợng trần thế đã mang hình thức những lực lƣợng siêu trần thế.
Về nguồn gốc của tôn giáo Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình, C. Mác đã khẳng định: Con ngƣời sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con ngƣời. Bàn về nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học Mácxít.
Nhờ vạch ra đƣợc nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tƣợng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học. Đối với hiện tƣợng tôn giáo cũng vậy. Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo. Chủ nghĩa Mác cho rằng tôn giáo ra đời có 3 nguồn gốc cơ bản: - Thứ nhất: nguồn gốc nhận thức Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn giáo.
Luan van 12 Trƣớc hết, lịch sử nhận thức của con ngƣời là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con ngƣời chƣa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tƣ cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chƣa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh đƣợc.