Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng 1. Tín ngưỡng Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người.
Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững. đôi khi được hiểu là tôn giáo Theo Khoản 1, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”[26, tr. Hoạt động tín ngưỡng Theo Khoản 2, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên”; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [26, tr. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo 1.
Tôn giáo Từ điển Tiếng Việt [69, tr.1011-1218] định nghĩa là “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tín ngưỡng và sùng bái lực lượng siêu tự nhiên của con người, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ”. 8 Luan van Từ điển Tiếng Việt [70, tr.239] định nghĩa là “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh”. Do tôn giáo là một phạm trù rất rộng, nhiều cách tiếp cận trên những giác độ khác nhau cho nên có những định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Các văn kiện của Đảng cũng như văn bản pháp luật của Nhà nước cũng chưa có một định nghĩa cụ thể về tôn giáo.
Về cơ bản chúng ta nhận thức tôn giáo trên cơ sở quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo: Theo Các Mác: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [68, tr. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời và biến đổi theo sự biến động của đời sống kinh tế, xã hội.
Tín ngưỡng, tôn giáo là sự phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan vào đầu óc con người. Qua sự phản ảnh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở nên thần bí. Anghen viết “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [2, tr. Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và xã hội xác định, do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và suy cho cùng là cách để con người hiểu về thế giới tự nhiên và xã hội.
Theo Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”[26,tr. 9 Luan van Chính vì vậy, theo quan niệm chung nhất, tôn giáo chính là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người. Ở nước ta, về mặt quản lý nhà nước, một tổ chức tôn giáo được công nhận khi có đủ các điều kiện sau: “Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích dân tộc; có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định; có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp; có tên gọi không trùng tên tổ chức tôn giáo đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận” [64, tr. Hoạt động tôn giáo Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo” Như vậy, theo định nghĩa này chúng ta thấy rõ “Hoạt động tôn giáo” của một tôn giáo có tổ chức bao gồm ba loại hoạt động cơ bản: 1, Hoạt động hành đạo (thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi); 2, Hoạt động quản đạo (quản lý tổ chức của tôn giáo); 3, Hoạt động truyền đạo (truyền bá).
Hoạt động hành đạo: chủ thể các hoạt động hành đạo là người tín đồ hay chức sắc hoặc của một cộng đồng tín đồ, tập thể chức sắc. Mục đích của hoạt động hành đạo là nhằm thỏa mãn đức tin tôn giáo của mỗi cá nhân hoặc là của cả cộng đồng. Hoạt động quản đạo: về cơ bản là hoạt động của đội ngũ chức sắc tôn giáo nhằm bảo đảm cho giáo luật được giữ gìn và thực thi nghiêm chỉnh trong nội bộ giáo hội. 10 Luan van Hoạt động truyền đạo: Về bản chất là hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục, cảm hóa, bồi dưỡng cho người ngoài tôn giáo của mình biết, hiểu và đồng ý gia nhập vào tôn giáo của mình.
Vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về tôn giáo là điều chỉnh, là hướng dẫn mọi hoạt động tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Nhà nước. Tổ chức tôn giáo và cơ sở tôn giáo 1. Tổ chức tôn giáo Theo Khoản 12, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”[26, tr. Khi nói về tổ chức tôn giáo cần chú ý một số vấn đề sau: - Cần phải phân biệt giữa cộng đồng tôn giáo và tổ chức tôn giáo với tư cách là những thể chế được định ra.
Đó là sự phân biệt giữa hai loại thành viên trong một cộng đồng, những chức sắc chịu trách nhiệm thực hiện thể chế trong bộ máy tổ chức tôn giáo và những tín đồ nói chung. - Không thể dựa vào tính tổ chức mà đánh giá sự hơn kém giữa các tôn giáo. Tất nhiên tính tổ chức cao của tôn giáo có thể làm cho tôn giáo dễ được truyền bá và phát triển. Tuy nhiên yếu tố quyết định, cơ bản là tôn giáo đó có chiếm được niềm tin của cộng đồng hay không? - Khi đề cập đến tổ chức tôn giáo thì phải kể đến một tổ chức quan trọng là giáo hội.
Không một tôn giáo nào mà không có giáo hội. Giáo hội gắn bó chặt chẽ với dân tộc, có lúc nó mở rộng ra ngoài phạm vi biên giới, có lúc chỉ bao gồm một bộ phận dân tộc, có lúc nó được chỉ đạo bởi một đoàn giáo sĩ, có lúc nó lại gần như hoàn toàn không có một cơ quan chỉ đạo được chính thức giao nhiệm vụ. Cơ sở tôn giáo Theo Khoản 14, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo”[26, tr. Nơi thờ tự, tu hành bao gồm: chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, tu viện.
thuộc tổ chức tôn giáo. Nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo bao gồm: học viện, trường cao đẳng, trường trung cấp phật học, đại chủng viện của đạo Công giáo, Viện thánh kinh thần học của đạo Tin lành. Mê tín, dị đoan Mê tín, dị đoan là những niềm tin hay ý niệm phát xuất từ lòng dễ tin không dựa trên lý lẽ hay kiến thức - nhất là khi những niềm tin hay ý niệm này không cần có bằng chứng vững vàng và đầy đủ. Nếu so sánh về nguồn gốc và bản chất thì sẽ thấy mê tín, dị đoan và tín ngưỡng khác nhau rất ít.
Nếu một hiện tượng không giải thích được xảy ra trong một tôn giáo, người theo tôn giáo ấy cho đó là một “phép màu”. Nếu một hiện tượng giống như vậy xảy ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”. Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo mình không mê tín vì họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v. Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ.
Và theo ý niệm “đức tin” thì tín đồ không cần phải giải thích được bằng kiến thức khoa học hiện thời về bất cứ điều gì dù là huyễn hoặc và phản khoa học hay phản thực tế bao nhiêu. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo Tư tưởng về xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân là điểm cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau giữa Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các hình thức nhà nước khác. Tất cả mọi quyền lực trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, là công cụ quyền lực của nhân dân, là nhà nước của dân, do 12 Luan van dân và vì dân. Do đó, nhà nước có trách nhiệm quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, thông qua hệ thống thiết chế tổ chức, những quy định mang tính nhà nước và pháp quyền…nhà nước quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực (trong đó có lĩnh vực tôn giáo) nhằm làm cho xã hội tồn tại trong trật tự và ổn định.
Ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, toàn bộ tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật.