Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO NGƯỜI KHMER 1. Khái quát về tôn giáo 1. Một số hiểu biết liên quan tôn giáo Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người” [17, tr. Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên” [17, tr.
Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo” [17, tr. Theo Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì: Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức [53]. Với sự thiếu hụt điểm dựa tinh thần, con người thường có xu hướng tìm đến thế lực siêu nhiên, tìm đến tôn giáo. Tùy nhu cầu và nhận thức của từng người mà tôn giáo sẽ phát huy những đặc tính vốn có của mình.
Con người khi theo một tôn giáo nào đó, có thể bắt nguồn từ ý thức của bản thân nhưng cũng có thể là do vô thức, chịu ảnh hưởng bởi những người xung quanh. Khi con người đủ kiến thức để nhận định về thế giới xung quanh mình, việc chuyển đổi tôn giáo có thể xảy ra nếu nhận thấy một tôn giáo khác phù hợp với cách sống, với niềm tin của mình hơn. Về chính trị, ở những nước có quốc giáo, chính phủ thường đứng sau vì quyền lợi và do môi trường, người dân nước ấy thuận lợi trong các hoạt động tôn giáo của mình. Chính quyền của quốc giáo cũng không hoặc ít tạo 9 n điều kiện nếu không muốn nói là ngăn cấm việc truyền những tôn giáo lạ vào.
Trừ những tôn giáo nảy nở thông qua quan hệ hôn nhân thì các tôn giáo khác khó du nhập và phát triển được. Về kinh tế, ở những nước không có quốc giáo, người dân tự do lựa chọn tôn giáo của mình, thì đây sẽ là những mảnh đất để các tôn giáo cạnh tranh lẫn nhau. Mỗi tôn giáo đều cố gắng phát huy tối đa thế mạnh của mình tại quốc gia hay vùng đất. Tùy từng đối tượng tín đồ mà mỗi tôn giáo có cách tiếp cận cũng như thu hút riêng.
Trong đó, kinh tế là một yếu tố quan trọng để tôn giáo có thể xâm nhập vào đời sống của tín đồ. Tôn giáo nào có sức mạnh tài chính hơn, biết sử dụng nguồn tiền một cách hợp lý để giúp đỡ tín đồ, thì dễ dàng lấy được lòng tin của họ. Một mặt tôn giáo sẽ nâng cao hiệu lực quản lý, làm xã hội ổn định hơn; nhưng ngược lại, tôn giáo cũng có thể phá vỡ tính ổn định xã hội, phá vỡ trật tự được định ra từ trước, gây ra những bất ổn xã hội. Tôn giáo vừa có lợi và vừa có hại đối với quản lý xã hội.
Tôn giáo với ổn định chính trị và phát triển cộng đồng hiện nay Châu Âu vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều nhóm giáo phái tôn giáo mới có nguồn gốc khác nhau từ Kitô giáo, các tôn giáo phương Đông do người nhập cư mang đến, số nhóm tôn giáo mới khác lại có xuất xứ từ Mỹ… Hầu hết các quốc gia Châu Âu đều xuất hiện một vài phong trào tôn giáo mới ngay trong đời sống tôn giáo của quốc gia mình. Theo tổ chức INFORM có khoảng 3000 tổ chức tôn giáo mới đang hiện diện ở Châu Âu với số lượng tín đồ khiêm tốn, rất ít giáo phái có số lượng tới 1000 thành viên. Phản ứng của xã hội Châu Âu đối với tôn giáo mới là thái độ nghi ngờ và thù địch [26]. 10 n Theo Sueki Fumhiko, ở Nhật Bản, các tôn giáo mới được hình thành vào cuối thời Mạc Phủ - Tokugawa mà: “ngày nay người ta gọi tổng thể những tôn giáo này là Tân tôn giáo (Shin-Shukyo) đối lập với những tôn giáo có từ trước” [57, tr.255] như các giáo phái Reiyukai (Linh hữu hội), Gedatsukai (Giải thoát hội), Thiên lý giáo (Tenri-Kyo), Hắc tú giáo (Kutozumi-Kyo), Kim Quang giáo (Konko-Kyo).
Tuy nhiên, sự chuyển đổi tôn giáo cũ (trước đó) sang tôn giáo mới ở Nhật Bản chỉ thật sự bùng nổ từ sau 1945, các học giả Nhật bản thường gọi là: “Thời khắc bùng nổ của các vị thần” [26]. Việc chuyển đổi tôn giáo ở Nhật Bản, có thể hiểu được nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa cho sự bùng nổ tôn giáo ở quốc gia này. Trung Quốc là quốc gia đa tôn giáo và dân tộc, trên phương diện tôn giáo có nhiều điểm tương đồng với lịch sử, truyền thống tôn giáo Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc thường gọi là “Tà giáo” hay tôn giáo “hỗn tạp” đối với các tôn giáo mới hay sự chuyển đổi từ tôn giáo cũ sang niềm tin tôn giáo khác.
Các hình thức đó xảy ra vào cuối thời Minh-Thanh như: các hệ phái từ “Bạch liên xã”, “Cầu nguyện giáo”, “Hoàng liên giáo”, “Hoàng thiên giáo”, “Hồng nhật giáo” cho đến tận ngày nay như: “Nhất Quan đạo”, “Pháp luân công”… Chu Việt Lợi cho rằng Tà giáo hoạt động mê tín tràn lan, hiện tượng khoa học giả, phù thủy, thuật lưu hành cũng thường giương cao ngọn cờ tôn giáo, gây khó khăn nghiêm trọng cho sự phát triển của các tôn giáo hợp pháp” [48, tr.71], vì thế quan điểm của Trung Quốc là “kiểm soát, điều tiết tín ngưỡng, tôn giáo” và “cải cách tôn giáo để thích ứng trong xã hội Trung Quốc” [48, tr. Hoa Kỳ là nơi có nhiều chủng tộc, dân tộc khác nhau di cư tới mang theo văn hóa, tôn giáo khác biệt đến. Ở đó, qua nhiều thế hệ hội nhập vào đời sống xã hội Hoa Kỳ, đồng thời ra sức bảo lưu, gìn giữ truyền thống văn 11 n hóa, tôn giáo của mình, hình thành ở Hoa Kỳ một bức tranh hết sức phức tạp giữa quan điểm, thái độ, ứng xử đối với sự xuất hiện tôn giáo khác. Chủ lưu áp đảo lớn nhất ở Hoa Kỳ vẫn là Kitô giáo (bao hàm Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành) [15, tr.23], là cơ sở thực tiễn cho quan điểm, thái độ và quan hệ ứng xử của xã hội Hoa Kỳ với các tôn giáo khác.
Ở góc độ khác, ở Nam Bộ và cụ thể ở An Giang đang nổi lên một số vấn đề về sự đa dạng dân tộc, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo đã làm nên bản sắc phong phú, là ưu thế cho phát triển bền vững của địa phương. Bên cạnh đó, trong sự phát triển về kinh tế, xã hội thì Nam Bộ và cả An Giang còn tiềm ẩn những động lực cho các kiểu loại hành động tập thể, phong trào xã hội khác nhau và các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới. Cơn lốc kiếm tiền và sự may rủi của thời buổi kinh tế thị trường đã khiến nhiều người dân tộc thiểu số đi tìm sự độ trì của lực lượng “siêu nhiên” thông qua sự cầu xin và cúng dường. Mặt khác, cùng với “diễn biến hòa bình” các tôn giáo gia tăng ảnh hưởng, các giáo phái nước ngoài thâm nhập ngày càng nhiều vào các tầng lớp dân cư các tộc người thiểu số ở đây cụ thể đối với người Khmer (An Giang), đã và đang tác động mạnh mẽ, chứa đựng nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội và an ninh quốc gia.
Từ đó, những tác động đến sự phát triển ổn định tôn giáo trong đời sống xã hội các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Nam Bộ còn thể hiện khá rõ nét trong các chính sách thực thi về tôn giáo trong thời gian gần đây. Hiện nay, việc đánh giá về công tác thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo trong cộng đồng người thiểu số phần nào còn khiên cưỡng và chưa phù hợp với thực tế khách quan của phát triển vùng. Những biến đổi kinh tế mạnh mẽ ở Nam Bộ đang dẫn đến những biến đổi về môi trường, xã hội, văn hóa đặc biệt trong tín ngưỡng, tôn giáo một cách nhanh chóng, kích hoạt những 12 n xung lực xã hội tiềm tàng, tạo nên cả cơ hội lẫn thách thức sự ổn định và khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Vì thế, không thể đơn giản hóa các vấn đề tôn giáo bằng cách quy vào khuôn khổ pháp luật.
Việc nghiên cứu, hình thành cơ sở lý thuyết và chính sách cho tín ngưỡng tôn giáo thật sự khoa học phải xuất phát từ những nguyên nhân tác động cả bên trong lẫn bên ngoài làm phát sinh hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo là vấn đề quan tâm của nhiều ngành khoa học nhằm có những đánh giá khách quan để tìm ra những giải pháp phù hợp cho sự phát triển ổn định, bền vững của đồng bào thiểu số tại chỗ ở Nam Bộ trong tương lai cụ thể đối với cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang. Chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo 1. Khái niệm chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo Chính sách tôn giáo là những chính sách xã hội về tôn giáo nhằm quy định những chuẩn mực, những quy chế về tôn giáo để phù hợp với thực trạng xã hội hiện tại của một quốc gia. Chính sách tôn giáo nhằm giúp cân bằng xã hội, nhằm củng cố và phát triển những sự gắn kết xã hội để cho các bộ phận tôn giáo hòa hợp với nhau [42, tr.
Thực hiện chính sách tôn giáo là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống. Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách [35]. Chủ thể thực hiện chính sách tôn giáo 13 n Từ quan điểm đổi mới của Đảng lần lượt các chính sách pháp luật về tôn giáo được ban hành như: Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, Nghị định 92/2012/NĐ-CP, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016… Các chính sách này đã cụ thể hóa quan điểm của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo. Các cơ quan làm nhiệm vụ tham mưu, kiến nghị với Nhà nước về thể chế chính sách tôn giáo thành pháp luật, văn bản dưới luật, tạo hành lang pháp lý để các tổ chức tôn giáo hoạt động chính là Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ.