Tổng quan nghiên cứu

Tây Ninh là trung tâm tổ đình của đạo Cao Đài với Tòa Thánh Tây Ninh tọa lạc tại huyện Hòa Thành. Toàn tỉnh hiện có 804.604 tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau, chiếm gần 69% dân số toàn tỉnh. Trong đó, tín đồ đạo Cao Đài chiếm tỷ lệ áp đảo với khoảng 557.827 người (chiếm trên 46% dân số toàn tỉnh), sinh hoạt tại 77 Họ đạo và 120 cơ sở thờ tự gồm Thánh thất và Điện thờ Phật Mẫu. Trên bình diện cả nước, đạo Cao Đài quy tụ hơn 2,5 triệu tín đồ phân bố tại 38 trên 63 tỉnh, thành phố.

Tây Ninh có vị trí địa chính trị đặc biệt với đường biên giới dài 240 km giáp Vương quốc Campuchia, 02 cửa khẩu quốc tế, 04 cửa khẩu quốc gia và 07 đường tiểu ngạch. Đây là địa bàn phát triển kinh tế năng động nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh xã hội. Các thế lực tiêu cực thường xuyên lợi dụng tôn giáo và sự xuất hiện của các nhóm ly khai tự xưng nhằm chia rẽ nội bộ tín đồ và chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài tại Tây Ninh trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2018. Mục tiêu then chốt của công trình là đánh giá khách quan các thành tựu, nhận diện rõ những điểm nghẽn trong công tác quản lý nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Từ đó, tác giả luận giải và đề xuất hệ thống giải pháp chính trị - hành chính khả thi nhằm hoàn thiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của hơn 550.000 tín đồ, củng cố an ninh trật tự và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, xem tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội tồn tại lâu dài cùng tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghiên cứu vận dụng đường lối đổi mới của Đảng được khẳng định trong Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo, nhấn mạnh nguyên tắc tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Về phương diện thể chế, đề tài khai thác hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành gồm Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP hướng dẫn thi hành. Khung lý thuyết làm rõ 05 khái niệm cốt lõi: quyền tự do tín ngưỡng, quản lý nhà nước về tôn giáo, pháp nhân tôn giáo, mô hình tổ chức giáo hội 02 cấp và công tác vận động quần chúng tín đồ. Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa 03 chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước, Hội thánh Cao Đài Tây Ninh và quần chúng tín đồ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp liên ngành giữa Chính trị học, Tôn giáo học và Khoa học quản lý công. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn kiện của Tỉnh ủy Tây Ninh (Kế hoạch số 01-KH/TU năm 1996), báo cáo tổng kết định kỳ của Ban Tôn giáo tỉnh Tây Ninh và cơ sở dữ liệu lưu trữ tại 09 huyện, thành phố trong giai đoạn 2009 - 2018.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để khảo sát thực tế toàn diện:

  • Khảo sát toàn bộ 16 cán bộ, công chức thuộc Ban Tôn giáo tỉnh Tây Ninh.
  • Khảo sát 09 Phòng Nội vụ cấp huyện (với định biên từ 01 đến 02 công chức phụ trách tôn giáo mỗi phòng).
  • Khảo sát 95 công chức phụ trách công tác tôn giáo tại 95 xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh.
  • Khảo sát thực địa tại 77 Họ đạo cơ sở và tiếp xúc đối thoại với hơn 100 vị chức sắc, chức việc tiêu biểu.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả là nhằm tái hiện bức tranh chân thực về cơ cấu nhân sự quản lý, phân tích những chuyển biến trong sinh hoạt tôn giáo và đo lường mức độ hiệu quả của việc triển khai các văn bản pháp luật vào thực tiễn địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện chính sách công nhận pháp nhân và bảo đảm sinh hoạt tôn giáo đạt kết quả vượt bậc. Kể từ khi Ban Tôn giáo Chính phủ ban hành Quyết định số 10/QĐ-TGCP ngày 09/5/1997 công nhận tư cách pháp nhân, chính quyền tỉnh Tây Ninh đã hướng dẫn tổ chức thành công 05 kỳ Đại hội toàn phái (1997 - 2022). Cơ quan quản lý đã chấp thuận phong phẩm, thăng phẩm cho hơn 2.800 lượt chức sắc, chức việc; cấp phép thành lập mới 23 Họ đạo cơ sở, xây dựng mới 23 Thánh thất và 18 Điện thờ.

Thứ hai, mô hình tổ chức Giáo hội 02 cấp (cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Ban Cai quản Họ đạo) vận hành ổn định, mở rộng tầm ảnh hưởng với 28 Ban Đại diện Hội thánh tại các tỉnh, thành phố. Đến Đại hội lần thứ IV, Hội thánh đã chính thức phong phẩm cho 13 chức sắc và 29 chức việc thuộc cộng đồng Cao Đài hải ngoại quay về gắn bó với quê hương. Hàng năm, chức sắc và tín đồ Cao Đài đóng góp hàng chục tỷ đồng cho các chương trình an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra sự bất cập nghiêm trọng trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước. Ở cấp tỉnh, Ban Tôn giáo chỉ có 16 biên chế công chức. Ở cấp huyện, mỗi Phòng Nội vụ chỉ bố trí 01 đến 02 cán bộ. Nghiêm trọng nhất là cấp xã với 95 công chức tại 95 xã, phường đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Tại 08 xã vùng biên giới huyện Châu Thành nơi có trên 30% đồng bào có đạo, cán bộ phụ trách thiếu chuyên môn sâu về tôn giáo học và thường xuyên luân chuyển công tác.

Thứ tư, xuất hiện sự mất cân đối nội bộ trong cơ cấu giáo phẩm giữa Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài khi số lượng chức sắc Hiệp Thiên Đài ngày càng suy giảm. Tình trạng này bị các phần tử xấu lợi dụng để kích động tư tưởng ly khai, thành lập các nhóm tự xưng chống đối Hội thánh và xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng.

                    CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỈNH TÂY NINH
                    
 Cấp Tỉnh                 Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ)
                          - 16 Công chức chuyên trách
                          - 03 Phòng chuyên môn nghiệp vụ
                                      │
                                      ▼
 Cấp Huyện                09 Phòng Nội vụ huyện / thành phố
                          - Mỗi phòng: 01 - 02 công chức phụ trách
                                      │
                                      ▼
 Cấp Xã                   95 Xã / Phường / Thị trấn
                          - 95 Công chức kiêm nhiệm
                          - 08 xã biên giới trọng điểm (>30% tín đồ)

Thảo luận kết quả

Các số liệu nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đổi mới công tác tôn giáo từ Thông báo số 34-TB/TW năm 1992 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Khi chuyển đổi mô hình từ Hội đồng Chưởng quản sang Hội thánh Cao Đài Tây Ninh tại Đại hội lần thứ III năm 2007 (gồm 47 thành viên do Đầu sư Thượng Tám Thanh làm Chưởng quản), bộ máy điều hành đã tinh gọn và tăng tính kỷ cương.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với các nghiên cứu quản lý hành chính tại vùng Nam Bộ, điểm nghẽn tại Tây Ninh bắt nguồn từ việc thiếu chế độ phụ cấp đặc thù cho cán bộ làm công tác tôn giáo. Các sự kiện tôn giáo lớn như Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung và Đại lễ Vía Đức Chí Tôn thường diễn ra vào ngày nghỉ, thu hút hàng trăm ngàn lượt người tham dự, đòi hỏi cán bộ phải bám sát địa bàn nhưng định mức chi hành chính hiện còn hạn chế.

Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua bảng đối sánh quá trình kiện toàn nhân sự qua 05 kỳ Đại hội và biểu đồ cột phản ánh sự chênh lệch giữa 16 cán bộ chuyên trách cấp tỉnh so với 95 cán bộ kiêm nhiệm cấp xã, cho thấy rõ nhu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa nguồn nhân lực chuyên môn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn và quy chế phối hợp liên ngành. Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cần rà soát, cụ thể hóa các điều khoản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 phù hợp với đặc thù hành đạo của đạo Cao Đài. Thiết lập quy chế phối hợp thường xuyên giữa Ban Chỉ đạo 37 Tỉnh ủy, các lực lượng chức năng và Mặt trận Tổ quốc trong việc giải quyết thủ tục đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự cho 77 Họ đạo trong giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ. Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh cần tham mưu xây dựng đề án vị trí việc làm chuyên trách về tôn giáo tại 09 huyện, thành phố; xóa bỏ dần chế độ kiêm nhiệm thuần túy tại 95 xã, phường. Đặt mục tiêu đến năm 2023 có 100% cán bộ làm công tác tôn giáo cơ sở được đào tạo chuẩn hóa kiến thức chuyên môn về Tôn giáo học, Chính trị học và pháp luật tín ngưỡng.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và chủ động bảo đảm an ninh chính trị. Ban Tuyên giáo phối hợp cùng Ban Tôn giáo tỉnh đổi mới hình thức phổ biến pháp luật, định kỳ tổ chức hội nghị đối thoại dân chủ với hơn 2.800 chức sắc, chức việc. Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trong 557.827 tín đồ nhằm nâng cao cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng 240 km đường biên giới để chống phá Nhà nước.

Thứ tư, phát huy tối đa nguồn lực xã hội của đạo Cao Đài trong phát triển địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cần phối hợp cùng Hội thánh xây dựng cơ chế phối hợp minh bạch, tạo điều kiện để các cơ sở Họ đạo tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực xã hội hóa như y tế từ thiện, giáo dục mầm non, cứu trợ thiên tai và bảo vệ môi trường nông thôn mới.

                   LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI 4 NHÓM GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM (2020 - 2025)
                   
     2020 - 2021                      2022 - 2023                      2024 - 2025
 ┌──────────────────────┐        ┌──────────────────────┐        ┌──────────────────────┐
 │  Hoàn thiện thể chế  │   ──>  │  Chuẩn hóa nhân lực  │   ──>  │  Phát huy nguồn lực  │
 │  & Quy chế liên ngành│        │  100% cán bộ cơ sở   │        │  Xã hội hóa từ thiện │
 └──────────────────────┘        └──────────────────────┘        └──────────────────────┘
            │                               │                               │
            └───────────────────────────────┴───────────────────────────────┘
                                            ▼
                     Đảm bảo an ninh trật tự trên 240 km biên giới

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho 04 nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên ngành Nội vụ, Ban Tôn giáo các cấp: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và kinh nghiệm thực tiễn để giải quyết các vấn đề phức tạp như cấp phép xây dựng Thánh thất, phong phẩm chức sắc, giải quyết khiếu kiện đất đai tôn giáo và quản lý các kỳ Đại hội toàn phái.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính trị học, Tôn giáo học, Xã hội học: Luận văn là công trình chuyên khảo hệ thống hóa đầy đủ lý luận và thực tiễn về tôn giáo nội sinh tại Nam Bộ, đóng vai trò tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội.
  • Chức sắc, chức việc và Ban Cai quản các Họ đạo Cao Đài: Cung cấp góc nhìn pháp lý chuẩn mực, giúp các nhà lãnh đạo tôn giáo hiểu rõ đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, từ đó định hướng hành đạo theo phương châm "nước vinh, đạo sáng".
  • Lực lượng an ninh nhân dân và cán bộ Mặt trận Tổ quốc các cấp: Nguồn tư liệu phục vụ việc nghiên cứu phương thức vận động quần chúng tín đồ vùng biên giới, phòng chống tội phạm lợi dụng tôn giáo và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc.

Câu hỏi thường gặp

Quy mô và tầm ảnh hưởng của đạo Cao Đài tại tỉnh Tây Ninh hiện nay như thế nào?

Đạo Cao Đài có trung tâm tổ đình Tòa Thánh tại huyện Hòa Thành, quy tụ khoảng 557.827 tín đồ (chiếm hơn 46% dân số Tây Ninh) với 77 Họ đạo và 120 Thánh thất, Điện thờ. Trên phạm vi toàn quốc, tôn giáo này có hơn 2,5 triệu tín đồ sinh hoạt tại 38 tỉnh, thành phố và khoảng 30.000 tín đồ định cư tại nước ngoài.

Mốc pháp lý quan trọng nhất của đạo Cao Đài Tây Ninh thời kỳ đổi mới là gì?

Ngày 09/5/1997, Ban Tôn giáo Chính phủ ban hành Quyết định số 10/QĐ-TGCP công nhận tư cách pháp nhân cho Cao Đài Tây Ninh. Sự kiện đón nhận pháp nhân ngày 03/6/1997 với 50.000 người tham dự đã mở ra giai đoạn hoạt động công khai, hợp pháp, đưa tôn giáo phát triển theo phương châm "nước vinh, đạo sáng".

Mô hình tổ chức của Giáo hội Cao Đài Tây Ninh hiện nay được cấu trúc ra sao?

Giáo hội vận hành theo mô hình 02 cấp hành chính đạo tinh gọn: cấp Trung ương là Hội thánh (do Đầu sư Thượng Tám Thanh làm Chưởng quản) gồm Cửu viện chuyên trách; cấp cơ sở là Ban Cai quản Họ đạo tại các xã, phường. Ngoài ra, Hội thánh thành lập 28 Ban Đại diện tại các tỉnh, thành phố làm cầu nối chỉ đạo.

Đâu là hạn chế lớn nhất trong bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo tại Tây Ninh?

Bất cập lớn nhất nằm ở cấp cơ sở khi toàn bộ 95 công chức phụ trách tôn giáo tại 95 xã, phường đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Tại 08 xã biên giới có trên 30% đồng bào có đạo, cán bộ còn thiếu chuyên môn sâu về tôn giáo học và thường xuyên biến động, gây khó khăn cho việc xử lý các tình huống phức tạp.

Luận văn đưa ra giải pháp gì để ngăn chặn các hoạt động lợi dụng đạo Cao Đài?

Tác giả đề xuất tăng cường hoạt động của Ban Chỉ đạo 37 các cấp, duy trì cơ chế phối hợp liên ngành giữa Công an, Ban Tôn giáo và Mặt trận Tổ quốc; định kỳ tổ chức đối thoại trực tiếp với chức sắc; đồng thời đẩy mạnh an sinh xã hội tại 05 huyện biên giới giáp Campuchia nhằm triệt tiêu mầm mống chia rẽ.

Kết luận

  • Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài tại Tây Ninh từ năm 2009 đến năm 2018.
  • Hệ thống hóa bức tranh thực tiễn sinh động của hơn 550.000 tín đồ, khẳng định những thành tựu to lớn trong việc công nhận pháp nhân, tổ chức 05 kỳ Đại hội và phong phẩm cho hơn 2.800 chức sắc.
  • Nhận diện chính xác 04 nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hạn chế, trọng tâm là sự bất cập của bộ máy 95 công chức kiêm nhiệm cấp xã và sự mất cân đối chức sắc Hiệp Thiên Đài.
  • Xây dựng hệ thống 04 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, nhân lực, an ninh và kinh tế - xã hội có tính khả dụng cao đến năm 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh trong việc hoàn thiện chính sách tôn giáo, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm đến công tác tôn giáo có thể nghiên cứu chi tiết toàn văn Luận văn Thạc sĩ Chính trị học của tác giả Phan Phúc Lộc tại Thư viện Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.