Vấn Đề Thực Hiện Chính Sách Tôn Giáo Đối Với Đạo Cao Đài Ở Tây Ninh Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ phân tích chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài tại Tây Ninh, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

107
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đạo Cao Đài Tây Ninh Lịch Sử và Phát Triển

Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có vị trí địa lý chiến lược, giáp Campuchia với nhiều cửa khẩu quốc tế và quốc gia. Tỉnh có dân số gần 1,2 triệu người, trong đó có khoảng 17.661 người thuộc 22 dân tộc thiểu số. Về tôn giáo, Tây Ninh là một trung tâm tôn giáo lớn với 5 tôn giáo chính, trong đó Đạo Cao Đài chiếm số lượng tín đồ lớn nhất. Đạo Cao Đài Tây Ninh có trung tâm tổ đình Tòa Thánh tọa lạc tại huyện Hòa Thành. Số lượng tín đồ Cao Đài chiếm đông nhất trong tỉnh với khoảng 557.827 tín đồ. Tôn giáo ở Tây Ninh có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội của người dân.

1.1. Giai Đoạn Hình Thành và Phát Triển Ban Đầu Của Đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài, một tôn giáo nội sinh, ra đời vào đầu thế kỷ 20 tại Nam Bộ. Quá trình hình thành gắn liền với những biến động xã hội và tâm linh của thời kỳ đó. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Cao Đài nhanh chóng phát triển nhờ sự kết hợp các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng bản địa và ảnh hưởng từ các tôn giáo lớn trên thế giới. Sự phát triển của Đạo Cao Đài không chỉ là sự lan rộng về số lượng tín đồ mà còn là sự định hình về giáo lý, giáo luật và cơ cấu tổ chức.

1.2. Sự Lan Rộng và Ảnh Hưởng Của Đạo Cao Đài Tại Tây Ninh

Đạo Cao Đài Tây Ninh hoạt động tại 38/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó, Hội thánh đã thành lập được 28 Ban Đại diện Hội thánh tại các tỉnh, thành phố, với 407 Họ đạo cơ sở. Riêng Cao Đài Tây Ninh tại hải ngoại có khoảng 30 cơ sở thờ tự, gần 30.000 tín đồ. Sự phát triển mạnh mẽ của Đạo Cao Đài tại Tây Ninh đã biến tỉnh này trở thành trung tâm tôn giáo quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực.

II. Giáo Lý và Cơ Cấu Tổ Chức Đạo Cao Đài Tổng Quan Chi Tiết

Đạo Cao Đài có hệ thống giáo lý phức tạp, kết hợp nhiều yếu tố từ các tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo và Cơ đốc giáo. Giáo lý Cao Đài nhấn mạnh đến sự hòa hợp giữa các tôn giáo, sự cứu rỗi linh hồn và việc tuân thủ các giới luật đạo đức. Cơ cấu tổ chức của Đạo Cao Đài được xây dựng theo mô hình phân cấp, với Hội Thánh là cơ quan quyền lực cao nhất. Các cấp bậc chức sắc được phân chia rõ ràng, đảm bảo sự vận hành trơn tru của tôn giáo.

2.1. Tìm Hiểu Giáo Lý Cốt Lõi và Các Nghi Lễ Quan Trọng Của Đạo Cao Đài

Giáo lý Đạo Cao Đài tập trung vào việc thờ Thượng Đế (Đức Cao Đài) và các vị thần thánh khác. Các nghi lễ quan trọng bao gồm cúng bái, cầu nguyện, sám hối và các lễ hội tôn giáo. Giáo lý và nghi lễ của Đạo Cao Đài có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của tín đồ, giúp họ tìm thấy ý nghĩa và mục đích sống. Việc tuân thủ giáo lý và tham gia các nghi lễ là một phần quan trọng trong đời sống của người theo Đạo Cao Đài.

2.2. Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức và Vai Trò Của Các Chức Sắc Trong Đạo Cao Đài

Cơ cấu tổ chức của Đạo Cao Đài được xây dựng theo mô hình phân cấp, với Hội Thánh là cơ quan quyền lực cao nhất. Các chức sắc được phân chia theo cấp bậc, từ thấp đến cao, bao gồm Chức việc, Giáo hữu, Lễ sanh, Giáo sư, Phối sư, Đầu sư và Chưởng quản. Mỗi cấp bậc có vai trò và trách nhiệm riêng, đảm bảo sự vận hành trơn tru của tôn giáo. Hội Thánh có trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động tôn giáo, giải quyết các vấn đề phát sinh và duy trì sự đoàn kết trong cộng đồng tín đồ.

III. Thực Trạng Quản Lý Nhà Nước Về Tôn Giáo Tại Tây Ninh Hiện Nay

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáoTây Ninh được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý từ cấp tỉnh đến cấp xã. Các cơ quan này có trách nhiệm thực hiện các chính sách, pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý nhà nước về tôn giáoTây Ninh vẫn còn một số hạn chế, cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả.

3.1. Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý Nhà Nước Về Tôn Giáo Ở Tây Ninh

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáoTây Ninh được xây dựng từ cấp tỉnh đến cấp xã. Ban Tôn giáo tỉnh là cơ quan chuyên môn, chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh về công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Ở cấp huyện, thành phố có phòng Nội vụ, có cán bộ phụ trách công tác tôn giáo. Ở cấp xã, phường, thị trấn có cán bộ văn hóa - xã hội, có nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình tôn giáo trên địa bàn.

3.2. Đánh Giá Ưu Điểm và Hạn Chế Trong Quản Lý Nhà Nước Về Tôn Giáo

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáoTây Ninh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như: đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo còn thiếu và yếu, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo chưa sâu rộng, việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn chậm trễ. Cần có giải pháp khắc phục những hạn chế này để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

IV. Chính Sách Tôn Giáo Đối Với Đạo Cao Đài Thành Tựu và Hạn Chế

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đối với Đạo Cao Đài, Nhà nước tạo điều kiện để Đạo Cao Đài hoạt động theo pháp luật, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với Đạo Cao Đài vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cần được giải quyết để đảm bảo quyền lợi chính đáng của tín đồ.

4.1. Khái Quát Về Chính Sách Tôn Giáo Của Nhà Nước Đối Với Đạo Cao Đài

Chính sách tôn giáo của Nhà nước đối với Đạo Cao Đài được thể hiện trong các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các văn bản này quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành và tín đồ. Nhà nước tạo điều kiện để Đạo Cao Đài hoạt động theo pháp luật, đồng thời yêu cầu Đạo Cao Đài tuân thủ pháp luật, không lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.

4.2. Đánh Giá Thành Tựu và Hạn Chế Trong Thực Hiện Chính Sách

Việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với Đạo Cao Đài đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, như: tạo điều kiện cho Đạo Cao Đài phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của Đạo Cao Đài. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như: một số quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo chưa sâu rộng, việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn chậm trễ.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Chính Sách Tôn Giáo Cho Đạo Cao Đài

Để nâng cao hiệu quả chính sách tôn giáo đối với Đạo Cao ĐàiTây Ninh, cần có các giải pháp đồng bộ, từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đến việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Đồng thời, cần phát huy vai trò của Đạo Cao Đài trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội.

5.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tôn Giáo và Quản Lý Nhà Nước

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tôn giáo để phù hợp với thực tiễn, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật. Cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách tôn giáo.

5.2. Tăng Cường Tuyên Truyền và Nâng Cao Nhận Thức Về Tôn Giáo

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo cho cán bộ, công chức, viên chức và người dân, đặc biệt là tín đồ Đạo Cao Đài. Cần nâng cao nhận thức về vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, về sự đa dạng tôn giáo và về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

VI. Phát Huy Nguồn Lực Đạo Cao Đài Trong Phát Triển Kinh Tế Xã Hội

Đạo Cao Đài có nhiều nguồn lực có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Tây Ninh, như nguồn lực về đất đai, tài chính, nhân lực và các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp. Cần có cơ chế, chính sách để phát huy tối đa các nguồn lực này, góp phần xây dựng Tây Ninh ngày càng giàu đẹp, văn minh.

6.1. Khuyến Khích Đạo Cao Đài Tham Gia Các Hoạt Động Từ Thiện

Khuyến khích Đạo Cao Đài tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Cần tạo điều kiện để Đạo Cao Đài xây dựng các cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng.

6.2. Tạo Điều Kiện Để Đạo Cao Đài Phát Triển Kinh Tế

Tạo điều kiện để Đạo Cao Đài phát triển kinh tế, như: cho thuê đất, vay vốn ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, xúc tiến thương mại. Khuyến khích Đạo Cao Đài đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật, tạo việc làm cho người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo cao đài ở tây ninh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát chung về đạo cao Đài và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Tây Ninh hiện nay - Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay. - Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh 7 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÔN GIÁO Ở TÂY NINH HIỆN NAY 1. Khái quát về đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 1. Quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài Khái quát về địa bàn tỉnh Tây Ninh Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ.

Dân số gần 1,2 triệu người có đường biên giới dài 240 km giáp vương quốc Campuchia, có 02 cửa khẩu quốc tế, 04 cửa khẩu quốc gia và 07 đường tiểu ngạch; có diện tích đất tự nhiên 4. Về dân tộc thiểu số, toàn tỉnh có 22 dân tộc thiểu số, khoảng 17.661 người, chiếm 1,6% dân số toàn tỉnh. Tỉnh Tây Ninh có địa giới hành chính gồm 09 huyện, thành phố, trong đó có 05 huyện biên giới. Tỉnh Tây Ninh nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam và Đông Nam giáp Thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Bắc và Tây Bắc giáp 2 tỉnh Svay Riêng và Kampong Cham của Campuchia với 1 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, hai cửa khẩu quốc gia là Sa Mát và Phước Tân và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch.

Với vị trí địa lý nằm giữa các trung tâm kinh tế - thương mại là Thành phố Hồ Chí Minh và phnôm Pênh (Campuchia), giao điểm quan trọng giữa hệ thống giao thông quốc tế và quốc gia, thông thương với các vùng kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, là điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế - xã hội. Về tôn giáo, Tây Ninh có 05 tôn giáo chính, gồm Cao Đài; Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Islam giáo. Hiện nay, các tôn giáo ở Tây Ninh có khoảng 804.000 chức sắc, chiếm gần 69% dân số toàn tỉnh, các tôn giáo có khoảng gần 300 cơ sở thờ tự. Cao Đài Tây Ninh hiện nay chiếm số lượng đông nhất trong tỉnh, có trung tâm tổ đình Tòa Thánh tọa lạc tại Thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, hiện nay số lượng tín đồ chiếm đông nhất trong tỉnh với khoảng 557.

Đạo Cao đài Tây Ninh hoạt động tại 38/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó, Hội thánh đã thành lập được 28 Ban Đại diện Hội thánh tại các tỉnh, thành phố, với 407 Họ đạo cơ sở. Riêng Cao Đài Tây Ninh tại hải ngoại có khoảng 30 cơ sở thờ tự, gần 30.000 tín đồ (đông nhất là ở Mỹ với 22 cơ sở thờ tự gần 20.000 tín đồ, còn lại là ở Canada, Autralia, Pháp và Campuchia). Ngoài ra, tỉnh có Cao Đài Ban Chỉnh đạo với khoảng 2.323 người (trong đó: 58 chức sắc, 60 chức việc, 06 cơ sở thờ tự (Thánh thất) và Pháp môn Cao Đài Chiếu minh Tam thanh vô vi (đây là phái tu chơn) có 02 cơ sở Nhà Đàn, với khoảng 485 tín đồ.

Nguồn gốc ra đời, quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh + Nguồn gốc ra đời Theo Hiến chương Đại đạo Tam kỳ phổ độ, Tòa Thánh Tây Ninh, năm Đinh Hợi – 2007 “Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần”, có tính dung hợp, được chính thức thành lập ở Việt Nam vào năm 1926, tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao". Theo nghĩa bóng, được hiểu là nơi cao nhất ở đó Thượng Đế ngự trị; cũng là tên viết tắt dành cho Thượng Đế, người sáng lập ra toàn vũ trụ, có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ.

Họ tin rằng tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định. Ngay cả việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh cũng có sự dẫn dắt của "Đấng Thiêng Liêng" [21, tr. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa Đông Dương để hàn gắn vết thương chiến tranh ở chính quốc bằng nhiều chính sách kinh tế hà khắc. Trong đó chính sách cướp ruộng đất để lập đồn điền và tăng thuế đã làm cho người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, đời sống lầm than khổ cực.

Giới công chức, tư sản, địa chủ, thầy giáo, thầy tu bị chế độ thuộc địa chèn ép bế tắc trong cuộc sống nên họ đã tìm đến thú chơi "xây bàn" theo kiểu thông linh học của người phương Tây hoặc cầu cơ chấp bút theo truyền thống của người Việt. Trong thời gian này ở Nam bộ liên tiếp xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp. Từ các cuộc 9 khởi nghĩa vũ trang đến phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, từ các tổ chức hội kín chống Pháp như Thiên địa hội của Phan Xích Long đến các tổ chức đảng phái chính trị được thành lập công khai như Công hội năm 1921, Đảng Lập hiến năm 1923, Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội 1926. Tuy nhiên tất cả các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước của nhân dân Nam bộ đều bị thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu.

Thất bại trong đấu tranh, bế tắc trong cuộc sống, người dân Nam bộ đã tìm đến tín ngưỡng và tôn giáo để mong được che chở và giải thoát. Thực dân Pháp áp dụng chế độ chính trị thuộc địa ở Nam bộ tương tự như ở chính quốc, vì vậy chính sách đối với tôn giáo tại Nam bộ không khắt khe như ở Bắc bộ và Trung bộ. Đây là điều kiện thuận lợi để một tôn giáo mới ra đời và phát triển. Nam bộ là vùng đất mới được kiến lập (khoảng 300 năm), cư dân chủ yếu thuộc bốn nhóm người gồm: Người Việt từ Bắc Trung kỳ vào, người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến xuống, người Chăm và người Khmer, trong đó người Việt chiếm đa số nên văn hóa, tín ngưỡng của người Việt vẫn chiếm vị trí chủ đạo.

Trong quá trình chung sống cộng cư và thâm nhập lẫn nhau của các tộc người đã làm cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Nam Bộ trở nên đa dạng và phong phú, tạo tiền đề để tiếp nhận một tôn giáo mới. Thời kỳ này, Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng truyền thống đang suy thoái, các tôn giáo có nguồn gốc từ châu Âu như Công giáo, Tin lành dưới con mắt của người Nam Bộ gắn liền với sự mất nước và cuộc xâm lược của Pháp. Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) vốn tồn tại lâu đời trong quá trình hình thành cư dân Nam Bộ nay hoà nhập cùng trào lưu “Thông linh học" của người phương Tây đã tạo thành phong trào cầu cơ chấp bút và được các nhóm Ngũ chi Minh đạo vốn có từ trước ở Nam bộ hưởng ứng tích cực. Có thể nói, những bất lực trong cuộc sống hiện tại, sự suy vi của các tôn giáo đạo lí đương thời đã tạo ra khoảng trống về tư tưởng, tín ngưỡng, kích thích nhu cầu tâm linh tôn giáo của quần chúng nhân dân, đó là những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời một tôn giáo mới và đạo Cao Đài ra đời là sự phản ánh tất yếu của xã hội lúc ấy.

+ Quá trình hình thành và phát triển Giai đoạn từ 1926 đến năm 1975 10 Đầu thế kỷ XX tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) ở Việt Nam có xu hướng yếu đi nhưng hoạt động của nhóm Ngũ chi Minh đạo (Minh sư, Minh lí, Minh đường, Minh tân, Minh thiện) đã làm cho tư tưởng ấy hồi sinh. Cùng lúc đó, phong trào Thông linh học phương Tây rất phát triển tại Nam bộ với những hình thức “xây bàn” tương tự như tục cầu hồn của người Việt và cầu cơ của nhóm Ngũ chi Minh đạo đã tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ này có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. - Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa theo truyền thống cơ bút thuộc nhóm Ngũ chi Minh đạo.

Lúc đầu, nội dung các đàn cơ chủ yếu là xin bài thuốc chữa bệnh và hỏi về thế sự. Đến năm 1920 trong một lần cầu cơ Ngô Minh Chiêu đã gặp Đức Chí Tôn ( Ngọc Hoàng Thượng Đế), sau đó đến năm 1924, ông Chiêu về Sài Gòn kết hợp với các ông Vương Quan Kỳ, Đoàn Văn Bản, Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài, trở thành những người đầu tiên thờ Đức Cao Đài. - Nhóm thứ hai gồm các vị Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc (nhóm Cao - Phạm) tổ chức xây bàn cầu cơ theo kiểu Thông linh học phương Tây nhằm mục đích giải trí, sau này mới sử dụng đại ngọc cơ của đàn Minh Thiện (thuộc Ngũ chi Minh đạo). Theo hình thức cơ bút, ngày 19/12/1925, Đức Cao Đài đã thu nhận các vị làm đệ tử.

Từ 1924 đến 1926, hai nhóm cơ bút nói trên hoạt động độc lập, đến ngày 01 tháng 01 năm Bính Dần (12/02/1926), trong một bài cơ Thượng Đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao Đài, ông Ngô Minh Chiêu được thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo. Ngày 9 tháng Giêng năm Bính Dần (20/02/1926), cơ bút đã điểm tên những đệ tử đầu tiên của đạo gồm 12 vị thông qua bài cơ như sau : Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh Bản đạo khai Sang Quý Giảng thành; Hậu Đức Tắc Cư Thiên địa cảnh Huờn Minh Mân đáo thủ đài danh. 11 Ngày 23/8/Bính Dần (29/9/1926), một số vị chức sắc đứng đầu các đàn cơ và tín đồ đã họp mặt tại nhà ông Nguyễn Văn Tường (phường Cầu Kho, quận 1 Sài Gòn) thống nhất kí tên vào tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp (gồm 28 vị kí tên đại diện cho 247 chức sắc tín đồ có mặt hôm đó). Đến ngày 15/10/1926(AL) những chức sắc thiên phong đầu tiên của đạo Cao Đài đã tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh chính thức cho ra mắt đạo Cao Đài, với sự hiện diện của một số quan chức người Pháp và người Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Chính Sách Tôn Giáo Đối Với Đạo Cao Đài Tại Tây Ninh: Thực Trạng và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình thực hiện chính sách tôn giáo đối với Đạo Cao Đài tại Tây Ninh. Tài liệu phân tích thực trạng hiện nay, những thách thức mà Đạo Cao Đài đang phải đối mặt, và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức chính quyền địa phương có thể hỗ trợ và quản lý tốt hơn các hoạt động tôn giáo, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về chính sách tôn giáo tại Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ tôn giáo học thực hiện quan điểm chính sách tôn giáo của đảng nhà nước trên địa bàn huyện vĩnh tỉnh kiên giang hiện nay thực trạng và giải pháp", nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về chính sách tôn giáo tại một khu vực khác. Ngoài ra, tài liệu "Luận án tiến sĩ quản lý công quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo cao đài tại khu vực đông nam bộ" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý nhà nước đối với Đạo Cao Đài trong bối cảnh rộng hơn. Cuối cùng, tài liệu "Luận án tiến sĩ luật học quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo pháp luật việt nam hiện nay" sẽ cung cấp cái nhìn pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh tôn giáo hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của chính sách tôn giáo tại Việt Nam.