Chương 1: Khái quát chung về đạo cao Đài và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Tây Ninh hiện nay - Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay. - Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh 7 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÔN GIÁO Ở TÂY NINH HIỆN NAY 1. Khái quát về đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 1. Quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài Khái quát về địa bàn tỉnh Tây Ninh Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ.
Dân số gần 1,2 triệu người có đường biên giới dài 240 km giáp vương quốc Campuchia, có 02 cửa khẩu quốc tế, 04 cửa khẩu quốc gia và 07 đường tiểu ngạch; có diện tích đất tự nhiên 4. Về dân tộc thiểu số, toàn tỉnh có 22 dân tộc thiểu số, khoảng 17.661 người, chiếm 1,6% dân số toàn tỉnh. Tỉnh Tây Ninh có địa giới hành chính gồm 09 huyện, thành phố, trong đó có 05 huyện biên giới. Tỉnh Tây Ninh nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam và Đông Nam giáp Thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Bắc và Tây Bắc giáp 2 tỉnh Svay Riêng và Kampong Cham của Campuchia với 1 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, hai cửa khẩu quốc gia là Sa Mát và Phước Tân và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch.
Với vị trí địa lý nằm giữa các trung tâm kinh tế - thương mại là Thành phố Hồ Chí Minh và phnôm Pênh (Campuchia), giao điểm quan trọng giữa hệ thống giao thông quốc tế và quốc gia, thông thương với các vùng kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, là điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế - xã hội. Về tôn giáo, Tây Ninh có 05 tôn giáo chính, gồm Cao Đài; Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Islam giáo. Hiện nay, các tôn giáo ở Tây Ninh có khoảng 804.000 chức sắc, chiếm gần 69% dân số toàn tỉnh, các tôn giáo có khoảng gần 300 cơ sở thờ tự. Cao Đài Tây Ninh hiện nay chiếm số lượng đông nhất trong tỉnh, có trung tâm tổ đình Tòa Thánh tọa lạc tại Thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, hiện nay số lượng tín đồ chiếm đông nhất trong tỉnh với khoảng 557.
Đạo Cao đài Tây Ninh hoạt động tại 38/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó, Hội thánh đã thành lập được 28 Ban Đại diện Hội thánh tại các tỉnh, thành phố, với 407 Họ đạo cơ sở. Riêng Cao Đài Tây Ninh tại hải ngoại có khoảng 30 cơ sở thờ tự, gần 30.000 tín đồ (đông nhất là ở Mỹ với 22 cơ sở thờ tự gần 20.000 tín đồ, còn lại là ở Canada, Autralia, Pháp và Campuchia). Ngoài ra, tỉnh có Cao Đài Ban Chỉnh đạo với khoảng 2.323 người (trong đó: 58 chức sắc, 60 chức việc, 06 cơ sở thờ tự (Thánh thất) và Pháp môn Cao Đài Chiếu minh Tam thanh vô vi (đây là phái tu chơn) có 02 cơ sở Nhà Đàn, với khoảng 485 tín đồ.
Nguồn gốc ra đời, quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh + Nguồn gốc ra đời Theo Hiến chương Đại đạo Tam kỳ phổ độ, Tòa Thánh Tây Ninh, năm Đinh Hợi – 2007 “Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần”, có tính dung hợp, được chính thức thành lập ở Việt Nam vào năm 1926, tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao". Theo nghĩa bóng, được hiểu là nơi cao nhất ở đó Thượng Đế ngự trị; cũng là tên viết tắt dành cho Thượng Đế, người sáng lập ra toàn vũ trụ, có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ.
Họ tin rằng tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định. Ngay cả việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh cũng có sự dẫn dắt của "Đấng Thiêng Liêng" [21, tr. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa Đông Dương để hàn gắn vết thương chiến tranh ở chính quốc bằng nhiều chính sách kinh tế hà khắc. Trong đó chính sách cướp ruộng đất để lập đồn điền và tăng thuế đã làm cho người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, đời sống lầm than khổ cực.
Giới công chức, tư sản, địa chủ, thầy giáo, thầy tu bị chế độ thuộc địa chèn ép bế tắc trong cuộc sống nên họ đã tìm đến thú chơi "xây bàn" theo kiểu thông linh học của người phương Tây hoặc cầu cơ chấp bút theo truyền thống của người Việt. Trong thời gian này ở Nam bộ liên tiếp xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp. Từ các cuộc 9 khởi nghĩa vũ trang đến phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, từ các tổ chức hội kín chống Pháp như Thiên địa hội của Phan Xích Long đến các tổ chức đảng phái chính trị được thành lập công khai như Công hội năm 1921, Đảng Lập hiến năm 1923, Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội 1926. Tuy nhiên tất cả các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước của nhân dân Nam bộ đều bị thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu.
Thất bại trong đấu tranh, bế tắc trong cuộc sống, người dân Nam bộ đã tìm đến tín ngưỡng và tôn giáo để mong được che chở và giải thoát. Thực dân Pháp áp dụng chế độ chính trị thuộc địa ở Nam bộ tương tự như ở chính quốc, vì vậy chính sách đối với tôn giáo tại Nam bộ không khắt khe như ở Bắc bộ và Trung bộ. Đây là điều kiện thuận lợi để một tôn giáo mới ra đời và phát triển. Nam bộ là vùng đất mới được kiến lập (khoảng 300 năm), cư dân chủ yếu thuộc bốn nhóm người gồm: Người Việt từ Bắc Trung kỳ vào, người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến xuống, người Chăm và người Khmer, trong đó người Việt chiếm đa số nên văn hóa, tín ngưỡng của người Việt vẫn chiếm vị trí chủ đạo.
Trong quá trình chung sống cộng cư và thâm nhập lẫn nhau của các tộc người đã làm cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Nam Bộ trở nên đa dạng và phong phú, tạo tiền đề để tiếp nhận một tôn giáo mới. Thời kỳ này, Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng truyền thống đang suy thoái, các tôn giáo có nguồn gốc từ châu Âu như Công giáo, Tin lành dưới con mắt của người Nam Bộ gắn liền với sự mất nước và cuộc xâm lược của Pháp. Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) vốn tồn tại lâu đời trong quá trình hình thành cư dân Nam Bộ nay hoà nhập cùng trào lưu “Thông linh học" của người phương Tây đã tạo thành phong trào cầu cơ chấp bút và được các nhóm Ngũ chi Minh đạo vốn có từ trước ở Nam bộ hưởng ứng tích cực. Có thể nói, những bất lực trong cuộc sống hiện tại, sự suy vi của các tôn giáo đạo lí đương thời đã tạo ra khoảng trống về tư tưởng, tín ngưỡng, kích thích nhu cầu tâm linh tôn giáo của quần chúng nhân dân, đó là những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời một tôn giáo mới và đạo Cao Đài ra đời là sự phản ánh tất yếu của xã hội lúc ấy.
+ Quá trình hình thành và phát triển Giai đoạn từ 1926 đến năm 1975 10 Đầu thế kỷ XX tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) ở Việt Nam có xu hướng yếu đi nhưng hoạt động của nhóm Ngũ chi Minh đạo (Minh sư, Minh lí, Minh đường, Minh tân, Minh thiện) đã làm cho tư tưởng ấy hồi sinh. Cùng lúc đó, phong trào Thông linh học phương Tây rất phát triển tại Nam bộ với những hình thức “xây bàn” tương tự như tục cầu hồn của người Việt và cầu cơ của nhóm Ngũ chi Minh đạo đã tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút”. Trong các đàn cơ này có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài. - Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa theo truyền thống cơ bút thuộc nhóm Ngũ chi Minh đạo.
Lúc đầu, nội dung các đàn cơ chủ yếu là xin bài thuốc chữa bệnh và hỏi về thế sự. Đến năm 1920 trong một lần cầu cơ Ngô Minh Chiêu đã gặp Đức Chí Tôn ( Ngọc Hoàng Thượng Đế), sau đó đến năm 1924, ông Chiêu về Sài Gòn kết hợp với các ông Vương Quan Kỳ, Đoàn Văn Bản, Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài, trở thành những người đầu tiên thờ Đức Cao Đài. - Nhóm thứ hai gồm các vị Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc (nhóm Cao - Phạm) tổ chức xây bàn cầu cơ theo kiểu Thông linh học phương Tây nhằm mục đích giải trí, sau này mới sử dụng đại ngọc cơ của đàn Minh Thiện (thuộc Ngũ chi Minh đạo). Theo hình thức cơ bút, ngày 19/12/1925, Đức Cao Đài đã thu nhận các vị làm đệ tử.
Từ 1924 đến 1926, hai nhóm cơ bút nói trên hoạt động độc lập, đến ngày 01 tháng 01 năm Bính Dần (12/02/1926), trong một bài cơ Thượng Đế đã phán dạy hai nhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao Đài, ông Ngô Minh Chiêu được thiên phong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo. Ngày 9 tháng Giêng năm Bính Dần (20/02/1926), cơ bút đã điểm tên những đệ tử đầu tiên của đạo gồm 12 vị thông qua bài cơ như sau : Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh Bản đạo khai Sang Quý Giảng thành; Hậu Đức Tắc Cư Thiên địa cảnh Huờn Minh Mân đáo thủ đài danh. 11 Ngày 23/8/Bính Dần (29/9/1926), một số vị chức sắc đứng đầu các đàn cơ và tín đồ đã họp mặt tại nhà ông Nguyễn Văn Tường (phường Cầu Kho, quận 1 Sài Gòn) thống nhất kí tên vào tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp (gồm 28 vị kí tên đại diện cho 247 chức sắc tín đồ có mặt hôm đó). Đến ngày 15/10/1926(AL) những chức sắc thiên phong đầu tiên của đạo Cao Đài đã tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh chính thức cho ra mắt đạo Cao Đài, với sự hiện diện của một số quan chức người Pháp và người Việt.