Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) với đề tài "Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Trần Ngọc Mai thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Trọng Đức và PGS. TS. Phan Quang Thịnh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đạo Cao Đài là một tôn giáo nội sinh ra đời năm 1926 tại Tây Ninh, phát triển thành tôn giáo lớn ở Việt Nam với hơn 2 triệu tín đồ trong nước và khoảng 30.000 tín đồ ở nước ngoài (chủ yếu tại Hoa Kỳ, Úc, Châu Âu). Tại khu vực Đông Nam Bộ, đạo Cao Đài tập trung khoảng 655.967 tín đồ, 3.774 chức sắc, 10.922 chức việc và 286 cơ sở thờ tự thuộc 11 hệ phái. Tác giả luận giải tính cấp thiết của đề tài qua 5 luận điểm chính:
- Quản lý nhà nước về tôn giáo góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp và pháp luật (từ Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016), tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động ổn định, đúng quy định.
- Khu vực Đông Nam Bộ là cái nôi hình thành và trung tâm phát triển của đạo Cao Đài cả nước, chiếm khoảng 1/4 tổng số chức sắc, chức việc, tín đồ cả nước (riêng tỉnh Tây Ninh có gần 1/2 dân số theo đạo Cao Đài), khiến nơi đây trở thành địa bàn quản lý đặc thù.
- Hoạt động của đạo Cao Đài diễn ra phong phú, thu hút đông đảo quần chúng (như Đại lễ Hội yến Diêu Trì Cung, Lễ Thượng Ngươn...), song vẫn tồn tại các hoạt động vi phạm pháp luật: sự xuất hiện của các nhóm ly khai chống đối giáo hội, mưu toan lập Hội thánh riêng, sinh hoạt và xây sửa nơi thờ tự không đăng ký, hiện tượng mê tín dị đoan và hoạt động lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh trật tự.
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại các địa phương Đông Nam Bộ bộc lộ hạn chế theo Thông báo số 41/TB-TGCP của Ban Tôn giáo Chính phủ: giai đoạn đầu củng cố tổ chức nặng về hành chính; chính quyền cơ sở chưa chủ động hướng dẫn thi hành hiến chương; cơ chế phối hợp và phân cấp còn chồng chéo, đùn đẩy; việc kiện toàn bộ máy và bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo gặp nhiều khó khăn.
- Về mặt lý luận, việc nghiên cứu hoạt động tôn giáo dưới góc độ khoa học quản lý công nhằm xác định rõ cơ quan quản lý, nội dung quản lý và phương thức quản lý trong bối cảnh cải cách hành chính vẫn là khoảng trống chưa có công trình nào giải quyết toàn diện tại địa bàn Đông Nam Bộ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đạo Cao Đài và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, chỉ ra các vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
- Làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài.
- Làm rõ lịch sử hình thành, phát triển và thực trạng hoạt động của đạo Cao Đài.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ thời gian qua.
- Dự báo xu hướng hoạt động, hệ thống hóa quan điểm của Đảng và xác lập phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Tại sao phải nghiên cứu đề tài quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ? Cơ sở khoa học để tiến hành quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài là gì?
- Tình hình hoạt động của đạo Cao Đài thời gian qua có ảnh hưởng gì đến quản lý nhà nước? Cơ quan chức năng đã thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài như thế nào?
- Cần phải làm gì để hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ trong thời gian tới?
- Giả thuyết khoa học:
- Đạo Cao Đài là tôn giáo lớn ở khu vực Đông Nam Bộ với những đặc điểm riêng; quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài là cần thiết và phải dựa trên cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn chặt chẽ.
- Hoạt động của đạo Cao Đài đã dần đi vào nền nếp, nhưng vẫn còn các hoạt động vi phạm pháp luật; công tác quản lý nhà nước cơ bản đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng nhưng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và quy trình thực hiện còn bất cập, hạn chế.
- Việc đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân sẽ là căn cứ khoa học để xây dựng hệ thống giải pháp và khuyến nghị khả thi cho các cơ quan chức năng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Đông Nam Bộ tiến hành theo quy định của pháp luật.
- Về không gian: 06 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khu vực Đông Nam Bộ gồm Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Từ năm 2004 (thời điểm ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo) đến tháng 12/2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo ba hướng chính:
1. Các công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của đạo Cao Đài
- Lê Anh Dũng (1996), Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920 - 1926, NXB Thuận Hóa: Làm rõ bối cảnh chính trị - xã hội Nam Kỳ thúc đẩy sự ra đời của đạo, hoạt động của Ngô Minh Chiêu và các tín đồ đầu tiên.
- Trần Văn Rạng (1994), Đại đạo sử cương: Trình bày biên niên các hoạt động chính của đạo Cao Đài, trọng tâm là Cao Đài Tây Ninh từ khi hình thành đến năm 1975.
- Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại Đạo, Lịch sử đạo Cao Đài (Quyển 1, Quyển 2): Khảo cứu sử liệu từ năm 1926 đến năm 1938 về thời kỳ khai đạo, truyền đạo, tổ chức Tòa thánh Tây Ninh và quá trình phân rẽ chi phái.
- Nguyễn Văn Trung (2015), Hồ sơ về Lục châu học, NXB Trẻ: Phân tích nguồn gốc đạo Cao Đài qua các tài liệu của Đào Trinh Nhất, Băng Thanh, La Laurette và Vilmont.
- Nguyễn Thanh Xuân (2015), Đạo Cao Đài hai khía cạnh: lịch sử và tôn giáo, NXB Tôn giáo: Phân tích toàn diện quá trình phân rẽ, nỗ lực hợp nhất, thái độ chính trị trong hai cuộc kháng chiến và chính sách công nhận tổ chức của Nhà nước.
- Võ Thị Hoa, Luận án tiến sĩ Lịch sử: Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lãnh đạo đồng bào theo đạo Cao Đài tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975): Đánh giá vai trò của tín đồ Cao Đài trong phong trào cách mạng địa phương.
- Phạm Thanh Hằng (2017), Cơ sở hình thành và phát triển của đạo Cao Đài tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 161: Tổng kết 5 phương diện thúc đẩy đạo Cao Đài ra đời.
2. Các công trình nghiên cứu về chính trị, xã hội, văn hóa và hoạt động của đạo Cao Đài
- Lê Văn Trung, Phương châm hành đạo: Đề cập quy chuẩn tu hành tại gia đình, Thánh thất và bổn phận xã hội của tín đồ.
- Victor L. Oliver (1976), Caodai spiritism – a study of religion in Vietnamese society, NXB E. Brill: Khảo sát thực tế cộng đồng Cao Đài gắn với văn hóa Nam Bộ dưới góc nhìn học giả quốc tế.
- Nguyễn Thanh Xuân (2013, 2016), các bài viết và sách Một số tôn giáo ở Việt Nam: Làm rõ giá trị truyền thống trong kinh sách, báo chí và đóng góp của tín đồ Cao Đài cho xã hội.
- Nguyễn Long Thành, Đời sống của người tín đồ Cao Đài; Phạm Bích Hợp, Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa; Nguyễn Mạnh Tiến, Luận án tiến sĩ Đạo Cao Đài ở Nam Bộ: tổ chức đời sống cộng đồng và những đặc trưng văn hóa: Tập trung vào văn hóa sinh hoạt, niềm tin tôn giáo và hiện tượng cơ bút.
- Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo tại Việt Nam (NXB Tôn giáo, 2006): Tập hợp hiến chương, điều lệ và quy định đào tạo chức sắc của các hệ phái.
- Đinh Quang Tiến (2016), Đặc điểm tổ chức giáo hội, giáo sỹ của đạo Cao Đài, Tạp chí Công tác tôn giáo số 6 (118): Phân tích cơ cấu 3 đài (Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài) và mô hình hành chính hai cấp.
- Trần Văn Rạng (1974/2015), Giáo dục văn hóa đạo Cao Đài; Đề án thành lập Trường Hành chánh Cao Đài của Hội thánh truyền giáo Cao Đài Đà Nẵng (2013); Đề án thành lập Học viện Cao Đài của Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên Bến Tre (2018): Khảo cứu nhu cầu và quy chế đào tạo chức sắc.
- Huỳnh Ngọc Thu (2017), Đạo Cao Đài ở Nam Bộ và những mối quan hệ; Cao Đài giáo lý (2020); Nguyễn Minh Châu (2020), Đề tài cấp Bộ Công an Nghiên cứu vận dụng đặc điểm tâm lý tín đồ đạo Cao Đài phục vụ công tác an ninh.
3. Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với tôn giáo
- Nguyễn Hữu Khiển chủ biên (2001); Bùi Đức Luận chủ biên (2005); Đỗ Quang Hưng (2007); Giáo trình Quản lý nhà nước về tôn giáo và dân tộc của Học viện Hành chính quốc gia (2009); Trần Thị Cúc và Lương Minh Việt (2012); Nguyễn Tất Đạt chủ biên (2016); Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018): Xác lập hệ thống lý luận chung về nguyên tắc, thẩm quyền và nội dung quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
- Các luận án tiến sĩ chuyên ngành: Trần Minh Thư (2004) về hoàn thiện pháp luật tôn giáo; Bùi Hữu Dược (2014) về quản lý nhà nước đối với tôn giáo từ 1975; Trương Ngọc Tuấn (2018) về chính quyền địa phương tại Thanh Hóa; Hà Ngọc Anh (2019) về quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Việt Nam từ 1986 đến 2018; Trần Văn Tình (2019) về quản lý hoạt động tôn giáo tại Đồng bằng Sông Cửu Long; Nguyễn Văn Thanh (2020) về vai trò của Mặt trận Tổ quốc.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận đạo Cao Đài dưới góc độ tôn giáo học, lịch sử, văn hóa hoặc an ninh. Các công trình quản lý nhà nước thường tiếp cận ở quy mô toàn quốc hoặc tại các khu vực khác (miền Trung, Tây Nam Bộ, một tỉnh cụ thể), chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đạo Cao Đài dưới góc độ Quản lý công tại khu vực Đông Nam Bộ trên cơ sở cập nhật khung pháp lý Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích khái niệm
- Khái niệm tôn giáo: Tiếp cận theo Khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và góc độ quản lý nhà nước (tổ chức đại diện cộng đồng có chung đức tin, giáo lý, giáo chủ và cơ cấu tổ chức).
- Khái niệm đạo Cao Đài: Luận án xác định đạo Cao Đài (Đại đạo Tam kỳ phổ độ) là tôn giáo hình thành tại Tây Ninh, gồm nhiều hệ phái và tổ chức độc lập được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, thờ Thượng đế, hoạt động theo hiến chương với mô hình hai cấp: Hội thánh (cấp trung ương) và Ban Cai quản họ đạo cơ sở (cấp địa phương).
- Hoạt động tôn giáo: Căn cứ Khoản 11 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, hoạt động tôn giáo gồm: truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo. Trong đó, quản lý tổ chức tôn giáo gồm 6 mảng nghiệp vụ: (1) Công nhận tổ chức, thành lập/chia tách/sáp nhập tổ chức trực thuộc; (2) Xét duyệt phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; (3) Thành lập cơ sở đào tạo, mở lớp bồi dưỡng; (4) Hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo; (5) Quản lý tài sản, đất đai, cơ sở thờ tự; (6) Hoạt động quan hệ quốc tế.
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo: Tiếp cận theo nghĩa hẹp là quá trình thực thi quyền hành pháp của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp nhằm điều chỉnh các hành vi, quan hệ phát sinh trong hoạt động tôn giáo tuân thủ quy định pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và trật tự an toàn xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam (Thông báo 34-TB/TW năm 1992, Nghị quyết 25-NQ/TW năm 2003).
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các văn bản chính sách, quy định pháp luật và báo cáo thực tiễn quản lý.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Hệ thống hóa số liệu về cơ cấu chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự giữa các mốc thời gian và giữa các địa phương trong khu vực Đông Nam Bộ.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khai thác văn kiện lưu trữ, giáo lý, hiến chương và các công trình đã công bố.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà khoa học, chuyên gia thuộc Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu tôn giáo, cùng cán bộ thực tiễn tại Vụ Cao Đài (Ban Tôn giáo Chính phủ) và Ban Tôn giáo các tỉnh Đông Nam Bộ.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện khảo sát qua 280 phiếu câu hỏi hợp lệ chia làm 2 nhóm đối tượng:
- Nhóm 1 (Cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo): 76 phiếu (Tây Ninh: 24, TP. Hồ Chí Minh: 17, Bình Dương: 10, Bình Phước: 09, Bà Rịa – Vũng Tàu: 08, Đồng Nai: 08).
- Nhóm 2 (Chức sắc, chức việc, tín đồ đạo Cao Đài): 204 phiếu (gồm 26 chức sắc, 15 chức việc, 163 tín đồ; phân bố: Tây Ninh: 75, TP. Hồ Chí Minh: 41, Bà Rịa – Vũng Tàu: 31, Bình Phước: 22, Đồng Nai: 22, Bình Dương: 13). Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh chiếm 56% tổng số mẫu điều tra.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu về đạo Cao Đài và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Luận án chỉ rõ các kết quả đã đạt được về mặt sử liệu, văn hóa cộng đồng, đồng thời xác lập khoảng trống khoa học về phương diện quản lý công tại địa bàn 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực thi hành.
Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài
Luận án hệ thống hóa quá trình phát triển của đạo Cao Đài qua các mốc lịch sử:
- Thời kỳ tiềm ẩn (1920 - 1926): Sự khởi xướng của Ngô Minh Chiêu và nhóm công chức, trí thức Sài Gòn (Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư); sự kiện 28 người đứng đầu ký Tờ khai tịch đạo gửi Thống đốc Nam Kỳ (07/10/1926) và lễ ra mắt tại Thiền Lâm Tự, Gò Kén, Tây Ninh (18/11/1926).
- Giai đoạn 1926 - 1934: Phát triển nhanh chóng về số lượng cơ sở và tín đồ nhưng bắt đầu xuất hiện mầm mống phân hóa, chia rẽ nội bộ giữa những người sáng lập.
- Giai đoạn 1934 - 1975: Phân hóa thành 12 hệ phái (1934 - 1954), sự hình thành của tổ chức Cao Đài Cứu quốc tham gia Việt Minh; giai đoạn 1954 - 1975 phân hóa chính trị phức tạp giữa các hệ phái yêu nước (Khối Cao Đài Liên giao I, II) và các nhóm bị chính quyền Sài Gòn lợi dụng (Cao Đài Thống Nhất, Cao Đài Tiên Thiên của Trần Kim Triêu).
- Giai đoạn 1975 - 1986 và từ 1986 đến nay: Quá trình chấn chỉnh tổ chức theo Thông báo 34-TB/TW năm 1992, xóa bỏ cơ bút, vận hành theo mô hình hai cấp và được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân.
Luận án tổng hợp bảng số liệu thực trạng quy mô đạo Cao Đài tại Đông Nam Bộ đến năm 2020:
| STT |
Tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương |
Chức sắc |
Chức việc |
Tín đồ |
Số hệ phái - Tổ chức độc lập |
| 1 |
Bà Rịa - Vũng Tàu |
255 |
397 |
9.664 |
05 – 0 |
| 2 |
Bình Dương |
- |
- |
- |
- |
| 3 |
Bình Phước |
11 |
125 |
3.xxx |
- |
| 4 |
Đồng Nai |
- |
- |
- |
- |
| 5 |
Tây Ninh |
- |
- |
- |
- |
| 6 |
TP. Hồ Chí Minh |
909 |
1.967 |
- |
11 – 07 |
|
Toàn khu vực Đông Nam Bộ |
3.774 |
10.922 |
655.967 |
11 hệ phái (286 cơ sở thờ tự) |
Về giáo lý và tổ chức: Luận án phân tích nguyên lý "Thiên địa vạn vật đồng nhất thể", "Nhất bản tán vạn thù", biểu tượng Thiên Nhãn, tư tưởng Tam giáo quy nguyên; các giới luật (Ngũ giới, Tứ đại điều quy, trai kỳ) và các ngày lễ trọng. Cơ cấu giáo hội được phân tích theo 3 đài: Bát Quái Đài (phần vô vi), Hiệp Thiên Đài (lập pháp, tư pháp, do Hộ pháp đứng đầu) và Cửu Trùng Đài (hành pháp, chia 9 viện thuộc 3 phái Thái - Thượng - Ngọc).
Chương 3: Thực trạng hoạt động của đạo Cao Đài và quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ
- Thực trạng hoạt động của đạo: Các hoạt động lễ nghi hàng năm dần đi vào khuôn khổ; công tác đào tạo chức sắc được tổ chức qua các khóa Hạnh đường (Bảng 3.1). Tuy nhiên, địa bàn còn tồn tại tình trạng mâu thuẫn nội bộ, hoạt động ly khai đòi khôi phục cơ bút, việc truyền đạo và cất sửa cơ sở thờ tự trái phép.
- Thực trạng quản lý nhà nước: Phân tích mô hình tổ chức bộ máy quản lý tôn giáo cấp tỉnh, huyện, xã (Bảng 3.2); kết quả thực hiện các nội dung quản lý về tổ chức, nhân sự chức sắc, đất đai cơ sở thờ tự, thanh tra và giải quyết khiếu nại.
- Đánh giá qua dữ liệu điều tra xã hội học: Phân tích mức độ hài lòng và đánh giá của chức sắc, tín đồ đối với sự hỗ trợ của chính quyền (Bảng 3.3) cùng nhận định của cán bộ, công chức về những vướng mắc trong phân cấp quản lý và bất cập pháp lý (Bảng 3.4).
- Hạn chế và nguyên nhân: Chỉ rõ sự lúng túng trong phối hợp liên ngành, phân cấp quản lý chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu và đặc điểm tâm lý phức tạp của các hệ phái.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ
- Dự báo xu hướng: Phân tích dự báo hoạt động của đạo Cao Đài trong thời gian tới dựa trên kết quả khảo sát chức sắc, tín đồ (Bảng 4.1).
- Hệ thống giải pháp hoàn thiện:
- Kiện toàn bộ máy quản lý: Điều chỉnh cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý tôn giáo các cấp bảo đảm tính thống nhất và chuyên trách theo kết quả khảo sát cán bộ, công chức (Bảng 4.2).
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về thần học Cao Đài và kỹ năng hành chính công.
- Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Tập trung vào các nội dung chức sắc, tín đồ có nhu cầu tìm hiểu (Bảng 4.3).
- Hoàn thiện quy trình quản lý hành chính: Minh bạch hóa thủ tục phong phẩm, bổ nhiệm, xây dựng cơ sở thờ tự, phân định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tôn giáo.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra và đấu tranh phòng chống lợi dụng tôn giáo: Ngăn chặn các hoạt động ly khai bất hợp pháp, giữ vững an ninh trật tự.
- Kiến nghị: Đề xuất cụ thể với Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Nội vụ và Ủy ban nhân dân 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm khung lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo dưới góc độ Quản lý công: xác định rõ khái niệm, chủ thể, phương thức, nguyên tắc và nội dung quản lý tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
- Phân tích các yếu tố đặc thù chi phối hiệu quả quản lý đối với một tôn giáo nội sinh có cơ cấu hành chính nhiều tầng nấc như đạo Cao Đài.
- Khái quát kinh nghiệm quản lý hoạt động tôn giáo từ một số quốc gia và khu vực khác (Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) để rút ra bài học cho vùng Đông Nam Bộ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của 11 hệ phái Cao Đài và thực trạng quản lý của Ủy ban nhân dân các cấp tại 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ giai đoạn 2004 - 2021 bằng nguồn số liệu thực chứng (280 phiếu điều tra xã hội học).
- Cung cấp cơ sở khoa học và các chỉ dẫn nghiệp vụ cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo các địa phương) nhằm hướng dẫn các Hội thánh hoạt động đúng hiến chương và pháp luật.
- Đóng góp tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công và Tôn giáo học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn từ năm 2004 đến tháng 12/2021 tại địa bàn 6 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đông Nam Bộ; đối tượng quản lý trọng tâm là các hoạt động thuộc thẩm quyền quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố theo quy định pháp luật hiện hành.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh giữa khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế quản lý tài sản, đất đai có nguồn gốc tôn giáo của đạo Cao Đài trong bối cảnh sửa đổi Luật Đất đai; đánh giá tác động của chuyển đổi số và truyền thông đa phương tiện đối với việc truyền đạo của các hệ phái Cao Đài.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị ứng dụng đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ, công chức làm công tác quản lý tôn giáo tại Vụ Cao Đài (Ban Tôn giáo Chính phủ), Ban Tôn giáo/Ban Tôn giáo - Dân tộc thuộc Sở Nội vụ 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ sử dụng làm căn cứ hoàn thiện quy trình xử lý thủ tục hành chính và xây dựng phương án xử lý mâu thuẫn nội bộ tôn giáo.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Quản lý công, Quản lý nhà nước về xã hội, Luật Hành chính, Tôn giáo học tham khảo khung lý thuyết, phương pháp điều tra xã hội học và hệ thống tư liệu lịch sử - pháp lý về đạo Cao Đài.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ được thống kê trong luận án như thế nào?
Theo số liệu tổng hợp từ Ban Tôn giáo các địa phương đến năm 2020 trong luận án, khu vực Đông Nam Bộ có 655.967 tín đồ, 3.774 chức sắc, 10.922 chức việc và 286 cơ sở thờ tự thuộc 11 hệ phái; trong đó Tây Ninh là trung tâm lớn nhất và TP. Hồ Chí Minh tập trung 909 chức sắc, 1.967 chức việc thuộc 11 hệ phái và 7 tổ chức độc lập.
2. Mô hình tổ chức giáo hội của đạo Cao Đài hiện nay hoạt động theo nguyên tắc nào?
Theo chủ trương của Đảng (Thông báo số 34-TB/TW năm 1992) và quy định pháp luật, các Hội thánh Cao Đài đã xóa bỏ hình thức cơ bút và vận hành theo mô hình hành chính hai cấp: cấp trung ương (Hội thánh tại Tòa thánh) và cấp địa phương/cơ sở (Ban Cai quản Họ đạo).
3. Mẫu điều tra xã hội học của luận án được phân bổ ra sao?
Luận án thu thập 280 phiếu điều tra hợp lệ tại 6 địa phương: gồm 76 cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo (Tây Ninh 24, TP.HCM 17, Bình Dương 10, Bình Phước 9, Bà Rịa – Vũng Tàu 8, Đồng Nai 8) và 204 chức sắc, chức việc, tín đồ (Tây Ninh 75, TP.HCM 41, Bà Rịa – Vũng Tàu 31, Bình Phước 22, Đồng Nai 22, Bình Dương 13); trong đó hai địa bàn trọng điểm Tây Ninh và TP.HCM chiếm 56% tổng số mẫu.
4. Những tồn tại lớn nhất trong công tác quản lý nhà nước đối với đạo Cao Đài tại Đông Nam Bộ là gì?
Luận án chỉ ra các hạn chế chính: việc kiện toàn tổ chức giáo hội thời gian đầu nặng về hành chính; thiếu sự chủ động hướng dẫn thi hành hiến chương; phân cấp và phối hợp liên ngành chưa đồng bộ, đôi lúc còn chồng chéo; tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ công chức làm công tác tôn giáo ở cơ sở còn nhiều bất cập trước diễn biến phức tạp của các nhóm ly khai.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Ngọc Mai đã xây dựng hệ thống cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Cao Đài tại khu vực Đông Nam Bộ dưới góc độ chuyên ngành Quản lý công. Thông qua việc phân tích toàn diện lịch sử, giáo lý, cơ cấu tổ chức giáo hội và xử lý dữ liệu điều tra thực chứng tại 6 tỉnh, thành phố, công trình đã làm rõ thực trạng quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2004 - 2021. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ đến đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đạo Cao Đài trong giai đoạn mới.