Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về đạo Cao Đài - Các công trình nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài Sách Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920 - 1926 (Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1996) của tác giả Lê Anh Dũng là công trình nghiên cứu về giai đoạn trước khi đạo Cao Đài chính thức được thành lập vào năm 1926. Tác giả đã trình bày khái quát về tình hình vùng đất Nam Kỳ trước khi đạo Cao Đài ra đời (trong đó nêu bật tình hình chính trị xã hội - một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành đạo Cao Đài), hoạt động của Ngô Minh Chiêu và các tín đồ Cao Đài đầu tiên cũng được tác giả trình bày một cách cụ thể.
Tác giả có nhắc đến phần nghi lễ và chức sắc, nhưng phần này chủ yếu trích các lời giảng của đức Cao Đài về nghi lễ, lễ phục và việc phong chức sắc cho các nhân vật sẽ là lãnh đạo của Cao Đài về sau như Lê Văn Trung, Ngô Văn Lịch, Thái Minh Tinh [15]. Sách Đại đạo sử cương của Trần Văn Rạng (xuất bản năm 1994). Tác giả đã trình bày các hoạt động chính của đạo Cao Đài, chủ yếu là Cao Đài Tây Ninh, từ khi hình thành cho đến năm 1975. Các sự kiện của đạo Cao Đài đã được trình bày theo thứ tự thời gian.
Do tác giả là chức sắc của đạo Cao Đài nên lượng thông tin trong sách rất phong phú. Tác giả “đóng vai” một người kể chuyện về lịch sử của đạo Cao Đài, đồng thời thể hiện những góc nhìn riêng của mình. Đây là một trong những tài liệu hữu ích khi nghiên cứu về đạo Cao Đài [49]. Sách Lịch sử đạo Cao Đài, quyển 1, 2 của Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại Đạo đã ghi lại những diễn tiến lịch sử từ bước đầu hình thành cho đến khi thành lập và chia rẽ thành các chi phái.
Cũng giống như Đại đạo sử Luận án tiên sĩ Quản lý công 12 cương, đây cũng là một ấn phẩm do những người trong đạo Cao Đài biên soạn. Nội dung trình bày các sử liệu của đạo từ năm 1926 đến năm 1938, theo 2 nội dung chính là thời kỳ khai đạo và truyền đạo. Quyển 1 giới thiệu thời kỳ đầu tiềm ẩn (giai đoạn từ năm 1920 – 1926) và quá trình ra đời đạo Cao Đài. Quyển 2 giới thiệu quá trình thành lập và kiện toàn tổ chức, hoạt động của đạo Cao Đài.
Nội dung cụ thể của cuốn sách được giới thiệu gồm 6 phần chính: Hoàn cảnh lịch sử và xã hội thời kỳ khai đạo; các giai đoạn hình thành đạo; đại lễ khai minh đại đạo; Hội thánh xây dựng cơ sở ban đầu (1927 – 1932); Nền hành chính đạo tại Tòa thánh Tây Ninh (1932 – 1938); Bắt đầu phân chia chi phái (1930 – 1938). Công trình đã làm rõ nguyên nhân ra đời và chia rẽ của đạo Cao Đài thời kỳ đầu thành lập, đồng thời làm rõ một số vấn đề về giáo lý, giáo luật của đạo Cao Đài [12]. Công trình Hồ sơ về Lục châu học của Nguyễn Văn Trung (Nhà xuất bản Trẻ, năm 2015), gồm 10 chương trong đó có một chương viết riêng về đạo Cao Đài: “Đạo ở vùng đất mới” từ trang 298 – 377. Tác giả dựa vào tài liệu, văn bản đã được công bố để tìm hiểu về sự ra đời của đạo Cao Đài ở Nam Bộ.
Qua 3 tài liệu cơ bản là Cái án Cao Đài của Đào Trinh Nhất, Cải án Cao Đài của Băng Thanh và tài liệu nghiên cứu đánh máy của La Laurette và Vilmont (2 viên chức cao cấp người Pháp ở Nam Kỳ). Việc tìm hiểu nguồn gốc ra đời của đạo Cao Đài được tác giả giải thích: “Đạo Cao Đài không chủ trương tranh đấu chính trị hay đề ra một cải cách xã hội nào, nhưng lại tạo được chỗ đứng cho nhiều tầng lớp trong một tổ chức, cơ chế riêng của mình bên cạnh khuôn khổ cơ chế xã hội do người Pháp áp đặt. Công trình đã đánh giá, nhìn nhận đạo Cao Đài trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và cho thấy vai trò của đạo Cao Đài trong xã hội miền Nam những năm đầu thế kỷ 20. Sách Đạo Cao Đài hai khía cạnh: lịch sử và tôn giáo của Nguyễn Thanh Xuân (Nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2015).
Tác giả luận giải hoàn cảnh, điều kiện ra đời của đạo Cao Đài; quá trình phát triển của đạo Cao Luận án tiên sĩ Quản lý công 13 Đài từ việc chia rẽ thành các chi phái, việc hợp nhất bất thành của đạo Cao Đài; ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống chính trị của đất nước qua việc đạo Cao Đài tham gia kháng chiến cứu quốc và thái độ của các thế lực đế quốc đối với đạo Cao Đài; cuối cùng là chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước và quá trình công nhận về tổ chức đối với đạo Cao Đài. Tác giả khắc họa thành công bức tranh toàn cảnh về đạo Cao Đài ở Việt Nam trên khai khía cạnh lịch sử và tôn giáo. Trên khía cạnh lịch sử, tác giả phân tích sự hình thành, tồn tại của đạo Cao Đài từ một tổ chức thống nhất đến khi chia rẽ thành các phái Cao Đài khác nhau và nỗ lực thống nhất của đạo Cao Đài, đồng thời chỉ rõ những đóng góp của đạo Cao Đài trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Trên khía cạnh tôn giáo, tác giả đã làm rõ về cơ cấu tổ chức, đời sống tinh thần, nghi lễ, hoạt động tôn giáo của đạo Cao Đài và phân tích nguyên nhân hình thành, tồn tại của đạo Cao Đài dưới góc nhìn của sử học [79].
Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lãnh đạo đồng bào theo đạo Cao Đài tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), Luận án tiến sĩ lịch sử của Võ Thị Hoa. Nói đến tôn giáo ở Tây Ninh là nói đến đạo Cao Đài. Có thể khẳng định quá trình phát triển và hoạt động của đạo Cao Đài là một phần không thể tách rời của lịch sử cách mạng Tây Ninh. Đảng bộ tỉnh Tây Ninh đã lãnh đạo đồng bào theo đạo Cao Đài đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai (1954 - 1965), chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn (1965 - 1975).
Kết quả và kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lãnh đạo đồng bào theo đạo Cao Đài giai đoạn này là tài liệu nghiên cứu có giá trị [30]. Bài viết Cơ sở hình thành và phát triển của đạo Cao Đài tại Việt Nam đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 161 (năm 2017) của Phạm Thanh Hằng. Tác giả đã khái quát cơ sở hình thành và phát triển của đạo Cao Đài trên 05 phương diện: Bối cảnh chính trị - xã hội đương thời; sự thất bại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Nam Bộ; Luận án tiên sĩ Quản lý công 14 sự suy thoái của các tôn giáo, trào lưu, tư tưởng đương thời và ảnh hưởng của tư tưởng “Tam giáo quy nguyên”; phong trào “Cơ bút”; vai trò của những người sáng lập [28, tr. - Các công trình nghiên cứu về phương diện chính trị, xã hội, văn hóa và hoạt động của đạo Cao Đài Sách Phương châm hành đạo của Lê Văn Trung với 24 trang, 8 chương gồm các nội dung về việc giữ đạo, người trong đạo, người ngoài đạo, phổ thông Thiên đạo, năng hầu đàn, điều lệ hầu dàn, xem kinh sách, luật lệ và hướng dẫn xem kinh sách.
Tác giả đã trình bày khá rõ nét về mục đích hành đạo, các đặc trưng cơ bản của tín đồ đạo Cao Đài trong việc tu hành ở gia đình, Thánh thất và xã hội. Có thể thấy rõ đạo Cao Đài hướng đến việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, mong muốn hoàn thiện bản thân thông qua hành đạo. Đó cũng là một lời giới thiệu tinh tế và đặc sắc của đạo Cao Đài đến quần chúng nhân dân [71]. Năm 1976, Nhà xuất bản E.
Brill, Leiden, Hà Lan đã xuất bản công trình nghiên cứu của Victor. Oliver có nhan đề Caodai spiritism – a study of religion in Vietnamese society (Thông linh học Cao Đài – một nghiên cứu tôn giáo trong xã hội Việt Nam). Vào năm 1970 Mục sư Victor L. Oliver đến Việt Nam, ông được Đồng Tân Trần Thái Chân giúp đỡ rất tích cực trong việc khảo sát thực tế một số cộng đồng Cao Đài để bổ sung kiến thức về đạo Cao Đài mà ông đã tìm hiểu trước đó.
Sự gắn bó mật thiết giữa đạo Cao Đài và đời sống văn hóa của cư dân miền Nam đã được thể hiện dưới góc nhìn của một Mục sư nước ngoài [81]. Bài viết Tìm hiểu kinh sách và báo chí của đạo Cao Đài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 6 (120) năm 2013 của Nguyễn Thanh Xuân. Tác giả đã cho thấy sự đặc sắc trong hệ thống kinh sách, báo chí làm cơ sở cho việc tuyên truyền giáo lý, giáo luật, lễ nghi của đạo Cao Đài. “Cao Đài là tôn giáo góp phần lưu giữ và truyền thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Đó cũng là nét đặc sắc của đạo Cao Đài” [78]. Luận án tiên sĩ Quản lý công 15 Sách Đời sống của người tín đồ Cao Đài của Nguyễn Long Thành đã phân tích làm rõ các giá trị trong đời sống của người tín đồ đạo Cao Đài trong sinh hoạt hàng ngày, trong tâm linh, trong ứng xử với xã hội và đức tin của người có đạo. Tác giả phân tích các hoạt động văn hóa của tín đồ đạo Cao Đài và niềm tin tôn giáo của họ trong cuộc sống [56]. Công trình nghiên cứu Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa của Phạm Bích Hợp viết về 3 tôn giáo bản địa sinh ra ở Nam Bộ là đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo và Bửu Sơn Kỳ Hương.
Trong đó phần đạo Cao Đài được giới thiệu từ trang 178 đến trang 314 với 3 nội dung chính: cơ bút – yếu tố tiên quyết cho sự hình thành đạo; giáo lý Cao Đài và đức tin của người tín đồ; một tôn giáo có nhiều hội thánh. Tác giả nhận định đạo Cao Đài là một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Nam Bộ và đánh giá cơ bút chính là điều kiện đầu tiên quyết định cho sự ra đời của đạo Cao Đài. Về giáo lý, tác giả cho rằng đạo Cao Đài đã cung cấp điểm tựa quan trọng cho đức tin của các tín đồ, đồng thời cũng phản ánh tinh thần cởi mở của người Nam Bộ [38].