phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương, 10 tiết. Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Hà Tây. 8 z Chƣơng 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn Hà Tây trong tình hình hiện nay.
Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO 1. Khái niệm và đặc điểm của tín ngƣỡng, tôn giáo Hoạt động của con người bao giờ cũng nhằm theo đuổi nhu cầu, lợi ích nhất định và bị chi phối bởi niềm tin vào khả năng hiện thực hoá nhu cầu, lợi ích đó. Niềm tin, do vậy trở thành động lực thôi thúc con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiến tới mục tiêu. Khái niệm niềm tin, tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian * Niềm tin: Xã hội, như C.Mác đã chỉ ra, là tổng hoà các mối quan hệ giữa người với người.
Niềm tin giữa con người với con người được nảy sinh trong thực tiễn sản xuất, trong đấu tranh cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội là cội nguồn nuôi dưỡng những mối quan hệ đó. Nhờ niềm tin, con người có được sự thôi thúc nội tâm để vươn tới cái mà mình hy vọng. Như vậy, niềm tin là một hiện tượng tâm - sinh lý. Nó xuất hiện từ nhu cầu cần thiết xác lập mối quan hệ giữa người với người cũng như mối quan hệ giữa người và vật trong quan hệ với người khác.
Tuỳ thuộc vào các mối quan hệ khác nhau, có các loại niềm tin với tính chất và vai trò khác nhau. Có loại niềm tin nảy sinh vì mục đích trao đổi, chia sẻ cho nhau những nhu cầu, những khả năng có hay có thể dựa vào để đạt yêu cầu nào đó. Lại có loại niềm tin từng thuộc là loại niềm tin được hình thành trên cơ sở bên này có thể thấy ở bên kia cái mà mình có khả năng dựa vào để đạt mục 9 z tiêu mà mình mong muốn. Trong trường hợp này, người tin ở vị trí tuỳ thuộc vào đối tượng mình tin.
Do vậy, đối tượng tin ít nhiều mang trong mình một sự hy vọng đối với người mới. Khi thẩm thấu sâu vào cuộc sống của cá nhân tin, của con người có niềm tin về cái gì đó, niềm tin đó trở thành tâm thức mang tính thường trực ở chủ thể mang niềm tin. Chính từ đây ra đời loại niềm tin mang tầm lý tưởng tự giác, tự nguyện cao trong việc tuân thủ các hành động do chi phối của loại niềm tin này không hoàn toàn vụ lợi, thậm chí, vì nó mà chủ thể mang niềm tin có thể hy sinh tất cả. Trong tình huống nhất định, nhờ niềm tin vô thức, chủ thể của nó có thể thực hiện những hành động bi hùng.
Niềm nin là một mối quan hệ (giữa người và người, giữa người và lực lượng siêu nhiên, giữa người và vật). Nó ít nhất bao gồm: người tin, đối tượng được tin. Đối tượng được tin có thể rất đa dạng: là những con người cụ thể; những vật thể được coi như là cái có sức mạnh giúp đỡ hoặc làm hại con người, những con người được đời gán cho những sức mạnh siêu nhiên. Người có đức tin tin rằng, những năng lực của đối tượng tin là có thật, nó là chỗ dựa của họ trong mọi trường hợp mà họ cần đến.
Nếu đó là lực lượng có hại, thì năng lực có hại của chúng cũng được tin là đúng và có thật. Vì vậy, con người phải thiết lập mối quan hệ hài hoà, hữu ái với chúng để khỏi gây khó khăn cho mình. Niềm tin mà con người theo đuổi có nhiều loại khác nhau. Có niềm tin khoa học, niềm tin tiền khoa học và niềm tin phi khoa học.
Tín ngưỡng là một trong số những niềm tin khoa học, phi khoa học đó. * Tín ngưỡng: Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả không bàn luận sâu về niềm tin nói chung, mà tập trung chú ý vào việc làm rõ niền tin gắn liền với tín ngưỡng, dân gian. Tiếp cận với vấn đề từ phương diện đó, niềm tin là điểm xuất phát của mọi tín ngưỡng. Lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một lực 10 z lượng siêu nhiên nào đó - một lực lượng siêu thực, hư ảo, vô hình là nội hàm cơ bản của tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng dân gian.
Đối với người có tín ngưỡng, lực lượng siêu nhiên là có thật, đang tác động vào cuộc sống của họ. Để thuận lợi trong cuộc sống, tránh mọi tai ương, họ tôn thờ, sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy. Lòng tin ở một lực lượng siêu nhiên, sự sợ hãi sẽ bị trừng phạt hay hy vọng sẽ được che chở, niềm tin rằng mình sẽ được giải thoát khỏi mọi tai ương, trắc trở. là hạt nhân ban đầu của tín ngưỡng.
Niềm tin đó còn tồn tại chừng nào con người chưa làm chủ được tự nhiên, xã hội, và bản thân. Khi con người còn gặp những bất hạnh, những may rủi, còn muốn thoát khỏi mọi nỗi ràng buộc đau khổ trên cõi đời, thì họ còn dựa vào đấng siêu nhiên, tối cao, huyền bí nào đó. Khi tiếp cận với vấn đề khả năng nhận thức của con người, từ giác độ phương pháp luận cơ bản, Ph. Ăngghen đã chỉ ra rằng đứng về bản lĩnh, về sứ mệnh lịch sử, tư duy của con người là tối cao và vô hạn.
Nhưng tính tối cao và vô hạn đó lại được thể hiện và thực hiện ở những con người cụ thể và trong thời kỳ lịch sử nhất định. Đối với mỗi con người cụ thể, trong thời kỳ lịch sử nhất định đó, tư duy của họ không có gì đáng được gọi là tối cao và vô hạn cả. Từ đó cho phép chúng ta khẳng định rằng, chỉ trong sự tiến triển tới vô hạn, con người mới nhận thức và giải thích đầy đủ mọi vấn đề mà hiện thực tự nhiên và xã hội đặt ra; mới có thể hoàn toàn làm chủ được tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ bản thân mình. Trên con đường tiến tới cái vô hạn đó, tầm hạn hẹp của con người trên tất cả các vấn đề nêu trên là không thể tránh khỏi.
Đó là cơ sở khách quan cho sự tồn tại lâu dài của tín ngưỡng. Nhưng, cũng có cơ sở để khẳng định rằng, cùng với sự phát triển tiến bộ của khoa học và thực tiễn xã hội, đối tượng của tín ngưỡng sẽ ngày càng là những hiện tượng tinh tế, phức tạp hơn, tính giản đơn, sơ khai của đối tượng tin sẽ giảm đi tương ứng. * Tín ngưỡng dân gian: 11 z Cho đến nay, chưa có một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh nào về khái niệm này. Nhiều lắm, một số nhà khoa học mới chỉ nêu lên vài nhân tố cấu trúc của tín ngưỡng dân gian, một số hình thức biểu hiện và hiện diện cơ bản của nó (đạo thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng.
Để góp phần đưa ra một quan điểm sơ khai nào đó về khái niệm này, phải chăng chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ với một khái niệm chung hơn: Văn hoá dân gian. Bởi vì, là một nhân tố cấu thành của văn hoá, cho nên, tín ngưỡng dân gian cũng có thể và cần được xem như là một yếu tố, một bộ phận văn hoá dân gian. Từ quan niệm đó, nếu văn hoá dân gian (folklore) được hiểu là loại hình văn hoá được ra đời nhờ sự sáng tạo của chính nhân dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng tôn giáo do chính nhân dân - trước hết, những người lao động - sáng tạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình. Nêu ra quan điểm như vậy về tín ngưỡng dân gian không có nghĩa là để rồi đi tới quan niệm bên cạnh tín ngưỡng dân gian, có tín ngưỡng bác học theo đúng nội dung khoa học của từ đó.
Mọi tín ngưỡng tôn giáo, theo bản chất của nó, đều là sự phản ánh hư ảo, sai lạc đối với hiện thực. Không có loại tôn giáo nào là khoa học theo nghĩa nghiêm túc của từ đó. Song, tầm "lý luận hoá", "khái quát hoá", "hệ thống hoá" của các tín ngưỡng, tôn giáo lại có mức độ, trình độ rất khác nhau và được thực hiện bởi những lớp người có trình độ trí tuệ không như nhau: Khi xét dưới giác độ một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo là loại tín ngưỡng được xây dựng hình thành cả một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh, có cả một quan niệm tương đối nhất quán với logic nội tại (tất nhiên, logic đó có thể chứa đựng không ít những yếu tố nguỵ biện, chiết trung, giả khoa học, nguỵ khoa học. Cùng với nó, là cả một hệ "chuẩn" về đức tin được biểu hiện thành giáo lý, được "quy tắc" hoá thành hệ chuẩn về giáo lễ, được "vật chất hoá" "thành một hệ thống tổ chức ít nhiều chặt chẽ (giáo hội), có một đội ngũ những người lấy việc truyền đạo làm hoạt 12 z động ít nhiều mang tính chuyên nghiệp của mình.
Còn tín ngưỡng dân gian về cơ bản do nhân dân, những người lao động sáng tạo ra. Nó không có tính hệ thống, không mang tính triết lý nhân sinh hoàn chỉnh cũng như nhiều yếu tố khác vốn có của một tôn giáo như đã nêu trên. Ngoài những điểm đồng nhất, giống nhau cơ bản, phương thức biểu tượng hoá đối tượng niềm tin trong tôn giáo và trong tín ngưỡng dân gian cũng có những khác nhau nhất định. Cả trong tôn giáo lẫn trong tín ngưỡng dân gian, đối tượng tín ngưỡng được người tin tạo cho một lý lịch, một năng lực, một sức mạnh cụ thể có lợi (hoặc có hại) cho con người.
Trong hình dạng cụ thể phù hợp với sức mạnh tính cách mà con người gán cho nó. Nhưng, thông thường trong tín ngưỡng dân gian, hình dạng con người với tính cách là đối tượng tin mang tính tích cực thường được nhân dân gán cho những đặc tính siêu nhiên, huyền bí (như có sức mạnh oai phong, lẫm liệt.