CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một khái niệm được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, đề cập dưới những góc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung đều có những điểm tương đồng nhất định.
Theo quan điểm của các nhà thần học, tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, tôn giáo được xem là một bộ phận của bản năng tâm lý con người. Tôn giáo ra đời trước hết là do sự bất lực của con người trước tự nhiên và mâu thuẫn nội tại giữa cái vô thức bản năng và cái vô thức tiếp nhận trong xã hội. Dưới khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo, C.Mác cho rằng, "tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" [14, tr. Dưới khía cạnh nguồn gốc tôn giáo, Ph.Ănghen cho rằng, "tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người, của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế" [16, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên và cho rằng lực lượng siêu nhiên này quyết định cuộc sống của họ. Đồng thời, tôn giáo thể hiện sự Luan van 7 bất lực của con người trước tồn tại xã hội sinh ra nó.
Tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội. Dưới góc độ QLNN, tôn giáo là đối tượng QLNN, tôn giáo được xem là tổ chức có cơ cấu chặt chẽ với hệ thống chức sắc là người lãnh đạo chuyên nghiệp, tín đồ là những người tin theo, có nơi hành đạo, có hệ thống giáo lý, giáo luật…“Tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ, có một kết cấu là một tổ chức giáo hội” [28, tr. Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Khoản 5, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tôn giáo được định nghĩa là “niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm các đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [35]. Khái niệm hoạt động tôn giáo HĐTG là hình thức thể hiện sự tồn tại của tôn giáo.
Theo góc độ tiếp cận khác nhau thì có HĐTG khác nhau. Tiếp cận theo hoạt động cụ thể, có hoạt động: truyền giáo, xây dựng tổ chức giáo hội, sinh hoạt tôn giáo, quản lý cơ sở vật chất, đào tạo - bồi dưỡng chức sắc, từ thiện - nhân đạo. Tiếp cận theo đối tượng hướng đến, có hoạt động đối nội và hoạt động đối ngoại. Tiếp cận theo tính chất hoạt động, có HĐTG thuần túy, hoạt động xã hội của tôn giáo.
Tiếp cận theo pháp lý, có HĐTG hợp pháp, HĐTG trái pháp luật. Dưới góc độ khoa học quản lý, HĐTG là "tổng thể các hoạt động cụ thể của tôn giáo, bao gồm hoạt động truyền giáo, xây dựng tổ chức giáo hội, tổ chức sinh hoạt tôn giáo – lễ hội, quản lý cơ sở vật chất, đào tạo – bồi dưỡng chưc sắc, các hoạt động xã hội của tôn giáo". Theo Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, HĐTG là "hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo" [35]. Truyền bá tôn giáo (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền giáo lý về nguồn gốc sự ra đời, quy định của tổ chức tôn giáo.
Hoạt động truyền đạo nhằm củng cố niềm tin tôn giáo đối với tín đồ, giúp những người chưa phải là tín đồ hiểu, tin theo tôn giáo và thông qua hoạt động truyền đạo để phát triển thêm tín đồ. Luan van 8 Sinh hoạt tôn giáo (còn gọi là hành đạo) là “việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo” [35]. Quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực hiện điều lệ, hiến chương của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, quy định của giáo luật, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Tổ chức tôn giáo là “tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo” [35].
Trong các hoạt động trên, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt động hành đạo có hoạt động truyền đạo. Ngoài ra, liên quan đến HĐTG, còn có các khái niệm sau: - Tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo. - Cơ sở tôn giáo (cơ sở thờ tự) gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp của tổ chức tôn giáo. - Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán, truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
- Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận. - Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo. - Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. - Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Những hoạt động quản lý đầu tiên được hình thành tự phát trong quá trình lao động trên cơ sở liên kết con người với nhau cùng chinh phục thiên nhiên. Quản lý được hiểu là "sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu nhất định" [46, tr. Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, xã hội dần có sự phân chia thành các giai cấp và bắt đầu xuất hiện đối kháng giai cấp. Đến khi mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa được, nhà nước xuất hiện.
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội để vận hành xã hội theo mục đích, định hướng của giai cấp thống trị, từ đó hình thành nên QLNN. Ngày nay, QLNN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, QLNN là dạng quản lý đặc biệt, nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước. Trong đó, cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để tác động, điều chỉnh quá trình, hành vi của con người, tổ chức trong xã hội. Theo nghĩa này, QLNN đối với HĐTG là quá trình các cơ quan sử dụng quyền lực nhà nước tác động, điều chỉnh, hướng dẫn để hoạt động của cá nhân, tổ chức tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu của nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, QLNN là "hoạt động thực thi quyền hành pháp nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành nhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật" [45, tr. Theo nghĩa này, QLNN đối với HĐTG là hoạt động chấp hành, điều hành của hệ thống cơ quan QLNN đối với HĐTG. Đồng thời, hướng dẫn cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo trật tự, đạo đức xã hội. Mặc dù được định nghĩa theo hai cách khác nhau về QLNN đối với HĐTG giáo nhưng vẫn có những điểm chung là sử dụng quyền lực nhà nước, một dạng quyền lực đặc biệt của xã hội để tác động, điều chỉnh HĐTG theo đúng quy định pháp luật và đạo đức xã hội.
Tóm lại, QLNN đối với HĐTG là vấn đề quản lý xã hội của nhà nước, là quá trình chấp hành, điều hành của hệ thống cơ quan QLNN đối Luan van 10 với HĐTG và cơ quan QLNN có liên quan đến HĐTG từ trung ương đến cơ sở để HĐTG diễn ra theo quy định của pháp luật, vừa góp phần thõa mãn nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân vừa bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Nội dung, chủ thể, đối tượng và vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam 1. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Nội dung cụ thể QLNN đối với HĐTG gồm các nội dung chủ yếu: Thứ nhất, quản lý việc truyền bá tôn giáo; thứ hai, quản lý sinh hoạt tôn giáo; thứ ba, quản lý tổ chức của tôn giáo. Theo quy trình QLNN đối với HĐTG, thì gồm các nội dung sau: Một là; Xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoạt động tôn giáo Hệ thống chính sách, pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của chủ thể có liên quan trong xã hội, góp phần đảm bảo, tăng cường pháp chế, hướng đến xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền.
Hệ thống chính sách, pháp luật đối với HĐTG phải được xây dựng trên cơ sở khách quan, khoa học, minh bạch, khả thi, phù hợp và tổ chức thực hiện nghiêm túc; đồng thời tiếp thu tinh hoa, thành tựu về khoa học quản lý của thế giới.