đặt vấn đề trả lại. - Đối với hội đoàn tôn giáo, thực hiện theo nguyên tắc mọi tổ chức phải được nhà nước công nhận và hoạt động theo qui định của pháp luật. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 12-1-2011 đến ngày 19-1-2011, tại thủ đô Hà Nội. Những văn kiện quan trọng của Đại hội lần này đã phản ánh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đống thời cũng là thành quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận sau 25 năm đổi mới đất nước, trong đó có đổi mới tư duy về tôn giáo.Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI một số văn kiện quan trọng thể hiện quan điểm của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, đó là: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011) khái quát: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Đấu tranh và xử 17 z lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân "[29,tr. Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, về vấn đề tôn giáo được nêu chi tiết nhất: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”[29,tr. Tóm lại, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đối với vấn đề tôn giáo hiện nay là thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, để từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu. Đồng thời làm cho quần chúng tín đồ thấy được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo được xác định là một bộ phận của chính sách xã hội, nhằm đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp “Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.2 Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được hiểu: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật tác động điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.1 Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tôn giáo trước hết xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới ở nước ta 18 z Quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng là công việc bình thường của mọi nhà nước trong đó có nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay xuất phát từ những lý do cơ bản sau: Tôn giáo là một thực thể của xã hội, tồn tại khách quan, lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội. Quá trình tồn tại, phát triển của tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Tôn giáo tồn tại vừa mang những ưu điểm (đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, khuyên răn con người hướng thiện "đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới".) vừa mang những hạn chế tiêu cực (trong nhận thức về thế giới và con người; bị lợi dụng vào các mục đích tiêu cực). Để phát huy những ưu điểm, tính tích cực của tôn giáo trong công cuộc xây dựng xã hội mới; hạn chế những tiêu cực do tôn giáo mang lại, quản lý nhà nước đối với các hoạt động này là cần thiết, khách quan.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, không những cần thiết phải quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo mà còn cần phải tăng cường quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này bởi lẽ : Thứ nhất: Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo có nhiều đổi mới, bởi vậy công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo cũng cần phải có những đổi mới cho phù hợp. Thứ hai : Yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng đặt ra nhiều vấn đề về hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, về bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Thứ ba : Trong công cuộc đổi mới ở nước ta bên cạnh những điểm tích cực, phù hợp của tôn giáo, thì các thế lực thù địch luôn lợi dụng hoạt động tôn giáo để thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. 19 z *Mục tiêu quản lý Đảm bảo cho các tôn giáo được hoạt động diễn ra bình thường trong khuôn khổ của pháp luật.
Phát huy được những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế tiêu cực trong hoạt động tôn giáo đối với quá trình phát triển xã hội. Xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường được vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. *Chủ thể và khách thể quản lý Chủ thể quản lý: Nếu hiểu quản lý nhà nước theo nghĩa rộng thì chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có thể kể tới đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống cơ quan lập pháp (Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan nhà nước), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp (Viện kiểm soát nhân dân và tòa án nhân dân).
Theo nghĩa hẹp thì chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp. Khách thể quản lý: Khách thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo chính là hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, cá nhân hoạt động trong hệ thống tổ chức tôn giáo. Cụ thể là: - Tín đồ tôn giáo: Tín đồ tôn giáo là người có niềm tin theo một tôn giáo nhất định và được tổ chức giáo hội thừa nhận. Ví dụ như giáo dân, linh mục…trong đạo Công giáo.
Tín đồ của các tôn giáo có sự thống nhất trên 2 mặt: công dân và tín đồ. Về mặt công dân, đều bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân khác. Về mặt tín đồ, là người có niềm tin và tình cảm tôn giáo ở những mức độ khác nhau, họ có quyền lợi và nghĩa vụ do tổ chức giáo hội quy định được thể hiện trong giáo lý, giáo luật. Mặt công dân và tín đồ thống nhất trong người công dân – tín đồ, nhưng không đồng nhất: mặt công dân phải được đặt lên trên hết.
20 z - Chức sắc tôn giáo: Chức sắc tôn giáo trước hết là tín đồ Giáo hội đào tạo, tấn phong vào các chức vụ Thánh hoặc các chức vụ thẩm quyền trong các tổ chức tôn giáo. Ví dụ như linh mục, giám mục trong đạo Công giáo. Các chức sắc tôn giáo có sự thống nhất giữa 3 mặt: công dân, hành đạo và đại diện. Họ được đối xử bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân, ngoài ra các chức sắc tôn giáo còn có điểm đặc biệt hơn công dân bình thường ở chỗ: họ có quyền uy của Giáo hội, do từng tôn giáo quy định, đại diện cho tổ chức Giáo hội ở những mức độ khác nhau trong quan hệ đối nội, trong quan hệ giữa đạo và đời.
- Nhà tu hành: Là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo. Trong đó mặt công dân là số một. Ví dụ các tu nam, các tu nữ trong đạo Công giáo. - Chức việc: Là tín đồ được Giáo hội chỉ định hoặc tập thể tín đồ bầu vào giữ các chức vị của tổ chức giáo hội cơ sở.
Ngoài nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ tín đồ, họ còn có chức vị thẩm quyền trong tổ chức giáo hội cơ sở. Ví dụ chức Chánh trương, Trùm trưởng trong đạo Công giáo. - Nơi thờ tự: Nơi thờ tự được thể hiện trên 4 mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở và sinh hoạt cộng đồng. Mặt vật chất, nơi thờ tự của các tôn giáo được xây dựng bằng những vật liệu khác nhau và có kiểu kiến trúc khác nhau phù hợp với niềm tin của từng tôn giáo.
Mặt tôn nghiêm là nơi luôn hiện hữu của thần quyền, nơi bái vọng, ngưỡng mộ và biểu hiện tình cảm tôn giáo, nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo. Mặt trụ sở, là nơi diễn ra các hoạt động hành chính đạo. Mặt sinh hoạt cộng đồng, là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt của các hội đoàn tôn giáo. - Đồ dung việc đạo: Bao gồm: kinh, sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, cờ trống, kèn, chuông, mõ…mỗi đồ dùng có vai trò, vị trí khác nhau trong sinh hoạt của các tôn giáo song chúng có chung một đặc điểm là sự thống nhất và đồng nhất giữa mặt vật chất và mặt biểu đạt.