Chương I gồm có: Một số van đề lý luận chung và khái quát về những nhân tố tac động đến tư tưởng bác ái trong sống đạo của người Công giáo tại địa bàn nghiên cứu. Chương 2 gồm có: Nội dung Tư tưởng bác ái thé hiện trong sống dao của người Công giáo hiện nay; Những thách thức và đề xuất một vài khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của bác ái trong sống đạo của người Công giáo hiện nay qua khảo sát tại hai giáo xứ Long Thạnh Mỹ và Thánh Câm ở thành phó Hồ Chí Minh. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VE DIA BAN NGHIEN CUU 1. Một số van đề lý luận chung liên quan đến đề tài nghiên cứu: 1.
Một số thuật ngữ liên quan đến đề tài: Dé luận văn được hiểu sát với nội dung giáo lý và đức tin Công giáo, tác giả sử dụng những thuật ngữ chuẩn được dùng phổ quát trong hệ thống tư liệu của Công giáo và được từ điển Công giáo giải thích. Các thuật ngữ được viết bằng tiếng La-tinh, tiếng Anh, tiếng Pháp, và được giải thích ý nghĩa bằng tiếng Việt: Agape (Caritas; Love; Charity): Là tình yêu cao thượng, tình bác ái huynh đệ hay được đề cập đến trong Công giáo, Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người và tình yêu của con người hướng về Thiên Chúa [62]; Là đức bác ái, đức mến. Hạn từ này được dùng trong các sách Tin Mừng, đặc biệt trong Tin Mừng của Thánh Gio-an khi Ngài đưa ra định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,16) [33]. Và chính từ xuất phát điểm đó, tình yêu đến từ Thiên Chúa làm nảy nở tình yêu với tha nhân (Ga 15,12-17; Ga 13,34; Ga 15,17; 1Ga 3,16) [ 25].
Bí tích (Sacramentum; Sacrament; Sacrement): Bí là kín an; Tích là dấu an, dấu vết. Bí tích là dấu ấn kín ân, là dấu vết ấn tín được ghi khắc lên. Bí tích là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, do Chúa Giê-su Ki-tô thiết lập và uỷ thác cho Hội Thánh để trao ban sự sống thần linh cho con cái mình. Từ thế ky XII, Hội Thánh đã xác định có Bay phép Bí tích: Rửa tội (Thánh tây); Thêm sức; Minh Thánh Chúa (Thánh Thể); Giải tội (Hoà giải); Sức dầu Thánh (Sức dầu bệnh nhân); Truyền chức Thánh; Hôn phối.
Cựu Uóc (Vetus Testamentusm; Old Covenant; Ancienne Alliance) (Mosaic covenant - theo sau tên của Mô-sê; Sinaitic covenant - theo sau tên 15 của núi Thánh Xi-nai): Cựu là cũ; Ước là ước hẹn, giao kèo, kết ước. Cựu Ước là Giao ước cũ đã được Thiên Chúa thiết lập và ký kết với dân của Ngài là Ít-ra-en trên núi Xi-nai. Từ Giao ước này, Thiên Chúa trao ban cho dân qua ông Mô-sê “Thập điều” là “Mười Lời” (Xh 20, 1-17; Xh 34, 10-27; Dnl 5,6- 22) hay thường gọi là Mười Điều Răn [25] làm nền tảng đạo đức để dân dựa vào đó mà tuân giữ và sống. Đạo Công Giáo: Đức tin, nghi lễ và luân lý của Hội Thánh Công Giáo Rô-ma với tư cách là một thực tại lịch sử, đã được mạc khải nơi Đức Giê-su Ki-tô và được tiền định sẽ tồn tại cho đến ngày tận thế.
Đạo Công giáo là tất cả những gì Hội Thánh dạy phải tin và phải sống dé được cứu độ, và ngoài sự cứu độ ấy, còn được thánh hoá. Hệ thống giáo lý, phụng vụ, và đời sống này được gọi là Công giáo (phổ quát), vì hệ thống ấy nhắm tới mọi người, mọi thời, cũng như chứa đựng mọi điều cần thiết và thích hợp cho mọi hoàn cảnh của cuộc song con người [40, tr. Duc Gido Hoang (Papa; Pope/ the Holy Father/ the Supreme Pontiff/ the Roman Pontiff/ the Bishop of Rome; Pape): Đức Thánh Cha; Giám mục thành R6-ma; Dang kế vị Thánh Phê-rô dé cai quản chăm sóc Giáo Hội Công giáo trên mặt đất; Là Mục tử tối cao của Hội Thánh Chúa Ki-tô tại thế; Là nguyên thủ quốc gia Va-ti-ca-nô. Giáo dân (tín hữu, người Công giáo) (Laitas; Laity; Laicat): Giáo là đạo; Dân là người.
Giáo dân là người tin theo một tôn giáo, một đạo. Giáo dân là những tín hữu, những người tin theo Chúa Gié-su, là những người đã được rửa tội, phục quyền Đức Giáo Hoàng, họ sống giữa đời, thuộc mọi lứa tuôi về nhiều thành phan trong xã hội. Tuy khác nhau về địa vị, về phong tục tập quán.nhưng họ cùng chung một đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh. Trong Hội Thánh, mỗi giáo dân là một chi thé, là một thành phan không thê thiếu trong thành phần dân Chúa.
16 Giáo khu: (Quasi Paroecia; Sub-Parish; Quasi-Par): Giáo là đạo; Khu là đơn vị tô chức nhỏ trong giáo xứ bao gồm các gia đình toạ lạc và sống trong một khu xóm trong giáo xứ có tô chức sinh hoạt đạo chung tạo thành một giáo khu. Trong một giáo xứ có thé có nhiều giáo khu khắc nhau được phân chia theo khu vực địa lý của khu xóm với số giáo dân sống tại đó. Giáo xứ (Paroecia; Parish; Paroisse): Giáo là đạo; Xứ là nơi chốn. Giáo xứ là đơn vị cơ sở nhỏ nhất trực thuộc Giáo phận hoặc Tổng Giáo phận, được cơ cấu tổ chức trong Giáo hội Công giáo.
Giáo xứ được chỉ một cộng đoàn các tín hữu Công giáo quy tụ sống gần nhau thành một cộng đoàn đức tin vững bền của Giáo hội địa phương. Đứng đầu giáo xứ là các Linh mục quản xứ ( Cha xứ) thay mặt Đức giám mục/ Tổng giám mục dé cai quản giáo xứ va chăm lo công việc mục vu cho các tín hữu. Hội đồng Mục vụ Giáo xứ (Consilium Pastorale Paroeciae; Parish Pastoral Council; Conseil Pastoral Paroissial): Hội dong là việc tập họp quy tụ của những người có thâm quyền; Mục vụ là việc của Hội Thánh chuyên biệt chăm lo cho đời sống thiêng liêng của giáo dân; Giáo là đạo; Xứ là nơi chốn. Hội đồng Mục vụ Giáo xứ là một tổ chức do Giám mục Giáo phận thiết lập, đứng dau là Cha xứ thay quyền Giám mục dé tổ chức, bồ nhiệm chức vụ và giới hạn nhiệm kỳ cho các thành viên là các giáo dân tham gia phục vụ tại giáo xứ.
Kinh Thánh (hoặc Thánh Kinh) (Biblica Vulgata; Holy Bible; Sainte Bible): Là từ ngữ xuất phát từ tiếng La-tin và Hy-lạp, có nghĩa là Quyên sách. Thánh là thiêng liêng, thánh thiêng; Kinh là quyên sách. Kinh Thánh là quyền sách thiêng liêng, chứa đựng các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, nhưng thường là từ các tôn giáo độc thần, có cùng một nguồn gốc tổ phụ là Ab-ra-ham như Do Thái giáo, Ki-tô giáo, và Hồi giáo. Trong đó, Ki-tô giáo được phân ly thành bốn nhánh gọi là: Công Giáo Rô-ma, Chính thống 17 giáo Đông Phương, Tin Lành, và Anh Giáo.
Kinh Thánh được chia ra theo Kinh Thánh Heb-rew (Do Thái giáo) và Kinh Thánh Ki-tô giáo. Ki-tô giáo (Christianus; Christianity; Christianisme): Trong đó, Ki-tô (Christ, Khristos, Mesiah) là Dang được xức dau, Dang được Thiên Chúa sai đến. Giáo là đạo. Ki-tô giáo là đạo của Đắng được xức dầu; Đạo của Đức Ki- tô.
Ki-tô giáo bị phân ly thành bốn nhánh lớn: Công giáo Rô-ma; Chính thống giáo Đông phương; Tin Lành; Anh giáo. Ki-tô giáo thế giới có khoảng 3,2 tỷ tín đồ, chiếm khoảng 30% dân số. Ki-tô giáo ra đời từ miền Đông của dé quốc La - Mã, từ vùng đất Pa-lét-tin thuộc Ít-ra-en ngày nay. Trải qua những thăng tram của việc hình thành va phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, và sự ly giáo đã xảy ra phân chia Ki-tô giáo thành các nhánh nhỏ.
Ki-tô hữu (Christianus; Christian; Chrétienne): Trong đó, Ki-tô được phiên âm từ tiếng La-tinh là Chritus là chữ được bắt nguồn từ tiếng Hy-lạp Khristos (nghĩa là “Dang được xức dầu”), tương đương với từ Mesiah trong tiếng Do Thái (Hebrew). Hữu là có, thuộc về Ki-tô hữu, là tín hữu, người tin, giáo hữu, tôi tớ thuộc về Đức Ki-tô, môn đệ của Đức Ki-tô, bạn của Đức Ki- tô, thuộc về Dang được xức dầu. Theo Công đồng Va-ti-ca-nô II định nghĩa: “Ki-tô hữu (là người) công khai tuyên xưng Chúa Gié-su Ki- tô là Chúa và là Thiên Chúa, Dang trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, dé làm vinh danh Thiên Chúa duy nhất là Cha, Con và Thánh Than” [x. Mục vụ (Ministerium Pastorale; Pastoral; Pastorale): Mục là chăn dắt, chăm sóc; Vụ là công việc.
Mục vụ là những công việc thuộc về Hội Thánh và thuộc quyền chăm sóc dẫn dắt của Hội Thánh đối với giáo dân tín hữu về đời sống đạo. Giáo hội hoạ lại vai trò Mục tử của Chúa Giê-su với ba chiều kích trong sứ vụ của mình: Vương dé (Thánh hoá); Ngôn sứ (Giáo huấn); Cai quan. Phung vụ (Liturgia; Liturgy; Liturgie): Phụng là tôn thờ. Vụ là việc.
Phụng vụ là việc tôn thờ, phụng thờ. Hội Thánh cử hành Phụng vụ là cử hành việc tôn thờ Thiên Chúa như trách vụ của mình, dé bày tỏ sự thông phần và 18 can dự vào Hy lễ Cứu độ của Chúa Giê-su Ki-tô trên Thập giá, qua việc thực thi chức năng Tư tế của Người trong Chúa Thánh Than, dé tôn thờ, ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa Cha. Tân Uóc (Pactum Novum; New Covenant; Nouvelle Alliance): Tân là mới; Ước là giao kèo, ước hẹn, kết ước. Tân Ước là Giáo ước mới được Chúa Giê-su thiết lập với các Môn đệ trong Bữa Tiệc Ly cuối cùng khi Ngài lập Bí Tích Thánh Thẻ trao hiến chính Mình và Máu Thánh của Ngài để diễn tả tình yêu tuyệt đối dành cho nhân loại.
Một sự hy sinh chết trên Thập giá vì tình yêu. Ngài nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đồ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26, 27-28; Xh 24, 8; Gr 31, 31; Dcr 9,11; Hr 9,20) [25]. Thánh bồn Mạng (Thánh quan Thay) (Sanctus Patronus; Patron Saint; Saint Patron): Bồn là bản thân, chính mình; Mạng là con người, số phận riêng. Thánh bổn Mạng là vị Thánh được mỗi tín hữu chọn làm tên Thánh riêng khi lãnh nhận Bí tích Thanh tây (Bí tích Rửa tội), với ý nghĩa cuộc đời mình sẽ được giao phó cho sự chăm sóc che chở của Vị Thánh ấy, cũng gọi là Thánh quan Thay.
Bình thường, giáo dân thường hướng đời sống đạo của mình theo gương tốt lành của vị Thánh bổn Mang mà minh đã nhận. Trong mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi hội đoàn, hay thành phố, quốc gia.cũng thường hay nhận một hay nhiều vị Thánh làm Thánh bén Mang hay Dang Bao trợ. Tin Mung (Evangelium; Gospel; Bonne Nouvelle): Tin là lời mach bao, lời nhăn gửi rao truyền; Mừng là vui. Tin Mừng là lời dem lại niềm vui va bình an.
Tin Mừng của Chúa Gié-su Ki-tô thường được trình bày trong Sách Tân Ước. Vào thé kỷ thứ II, Tin Mừng dé chỉ những sách ghi lại những tin vui mừng ấy. Đó là 04 cuốn sách Tin Mừng theo: Thánh Mát-thêu, Mác-cô-, Lu- ca, Gio-an.