Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục và Nội dung gồm 4 chương, 9 tiết. TỎNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SÓ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Căn cứ vào nội dung của luận án có thể dự kiến chia các công trình nghiên cứu đã có thành các nhóm như sau: - Các công trình viết về những tư tưởng cơ bản của Phật giáo và tư tưởng Từ bi trong Phật giáo - Các công trình viết xoay quanh chủ đề về kinh Diệu Pháp Liên Hoa và những tư tưởng cơ bản của kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Các công trình viết về tư tưởng đạo đức, giá trị dao đức của Phật giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam và đời sống tín đồ Phật tử Việt Nam hiện nay. Các công trình viết về những tư tưởng cơ bản của Phật giáo và tu tưởng Từ bi trong Phật giáo Tư tưởng Phật giáo là một nền tư tưởng lớn, chính vì thế ở cụm chủ dé tư tưởng Phật giáo nói chung đã được đề cập đến trong rất nhiều các công trình của các tác giả lớn.
Nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo không thé không kể đến các công trình viết về những bước đường lịch sử thăng trầm của Phật giáo, tư tưởng Phật giáo thể hiện qua hệ thống kinh sách, giáo lý và Như cuốn: Đại cương lịch sử triết học Phương Đông cổ đại (2003) của Doãn Chính (Chủ biên). Đại thừa Tư tưởng luận của Sa môn Thích Huệ Dang. Cuốn sách đã khái quát những tư tưởng trọng yếu trong một số bộ kinh Đại thừa trong hệ thống giáo lý bao la của Phật giáo, với mục đích: 14 “Dé cho những hành giả tu hành nắm vững cốt tủy của những bộ Kinh này, nhận rõ được con đường tu học giáo lý theo gương hạnh Đức Thể Tôn, hình thành được Tâm lực và Trí lực, ứng dụng vào đời, vượt qua những thăng tram sóng gió, lam lợi ích cho tự thân và mọi người trong cộng đông xã hội, hoàn thành pháp lực chính minh” [Thích Huệ Đăng, 2011, tr. Trong cuốn sách này, tác giả đã đi vào khái quát tư tưởng của các Bộ kinh Đại thừa như: Đại thừa Khởi Tín Luận, Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Viên Giác, Bat Nhã, Kim Cang Bát Nhã, Pháp Bảo Đàn, Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bat Niết Bàn.
Tư tưởng Phật giáo An Độ của tác gia Edward Conze (Dịch giả Hạnh Viên) (2007), Nxb Phương Đông. Đây là công trình biên khảo công phu của Edward Conze, được xuất bản năm 1962. Trong gần 500 trang sách ông đã dựng lại toàn bộ dòng phát triển tư tưởng Phật giáo của hầu hết các tông phái ở Ấn độ, trải qua ba giai kỳ phát triển triết học, từ Phật giáo sơ kỳ đến Phật giáo thời phân chia bộ phái, và cuối cùng là Phật giáo phát triển của Đại thừa. Một tập đại thành vô số tài liệu quý liên quan đến hầu hết các bộ phái Phật giáo chủ yếu, được sưu tập và phân tích theo tiêu chuẩn học thuật hàn lâm, được nhận định và trình bày với tinh thần trách nhiệm và thâm quyền đương nhiên của chính tác giả.
Cuốn sách gồm ba phần: Phật giáo sơ kỳ, Thượng tọa bộ, Giáo nghĩa Đại thừa. Tư tưởng Phật giáo là một nền tư tưởng giàu tính nhân văn, tiến bộ, lành mạnh. Nó vận dụng những ý niệm lợi tha, tích cực, từ bi, bac ái, áp dung xác thực vào đời sống đang bị chà đạp, gây nên bởi tham, sân, si. Tư tưởng Phật giáo dạy nhân sinh xa lánh những tật xấu xa, bỉ 6i đồng thời giúp con người khởi ý niệm hữu ích như thật.
Người có tư tưởng Phật giáo tức là người muốn mưu cau đời sống thực tế, hạnh phúc, tương thân, tương ái trong hiện 15 tại và giải thoát hoàn toàn ở tương lai. Đó chính là nội dung cuốn sách Tw tưởng Phật giáo cua tac giả Bhikkhu Quảng Liên (1956), Nxb Phat hoc đường Nam Việt đề cập đến. Cuốn sách Phát học Tỉnh hoa khởi nguồn, tụ trì, cứu độ và giải thoát của Tác giả Thích Điền Tâm, 2013, Nxb Thời đại. Trong cuốn sách tác giả đã bàn đến những nội dung cơ bản liên quan đến lịch sử phát triển Phật giáo; Quan niệm về động vật, thực vật trong Phật giáo, các pháp khí trong Phật giáo,.
đây đều là những tri thức cơ bản cho những ai quan tâm, muốn tìm hiểu về Phật giáo. Trong đó, tác giả có một phần nhỏ dành giới thiệu về Pháp Hoa kinh, trong đó ý nghĩa của tên kinh được trình bày khá chỉ tiết. “Pháp hoa kinh, dich từ tiếng Phan là Saddharmapundarika sutra. Sad hình thành từ động từ sat, có nghĩa là hiện thực, đích thực, thực tiễn, chân thực, vi diệu, điều không thể diễn tả được,.
“Sad”, ngài Pháp Hộ dich là “chính”. Ngài Cựu Ma La Thập dich là “diệu ”. Dharma hình thành từ động từ DHR, có nghĩa là bảo toàn, duy trì, làm cho hiện hữu, sắp xếp, làm cho có trật tự, duy trì dé hiện hữu,. Do di từ động từ gốc như vậy, nên pháp hay dharma có nghĩa là nguyên tắc hay nguyên lý tôn tại,.
Các bản dịch tiếng Hán déu dịch là pháp. Pundarika có nghĩa là hoa sen trắng. Ngài Pháp Hộ phiên âm là “phân đà lợi” và dịch là hoa. Ngài Cưu Ma La Thập phiên âm là “cấp đa” và “xa na khuất đa” đều dịch là liên hoa.
Ngài Tăng Dué là một trong bốn vị đại đệ tử xuất chúng của ngài Cưu Ma La Thập giải thích rằng, hoa sen là loài hoa đặc biệt hơn hết thảy các loài hoa. Hoa đúng độ nở, goi là phân da lợi. Hoa sen chưa nở là hình anh ty dụ cho đạo Nhị thừa; nở ra mà đã rụng là hình ảnh tỷ dụ cho Niết Bàn và hoa đang độ nở là tỷ dụ cho kinh này 16 Vậy, Saddharmapundarika có nghĩa là pháp đích thực, pháp hiện thực, pháp thuân khiết, pháp nguyên vẹn, pháp không thể diễn tả, pháp vi diéu,. Pháp ấy vi như hoa sen trắng” [Thích Điền Tâm, 2013, tr.
97,98] Cuốn sách Phật giáo truyền thong Đại thừa của tac giả Geshe Kelsang Gyatso (Thích nữ Trí Hải dịch) (2012), Nxb Hồng Đức. Cuốn sách đề cập đến những “phạm trù” cơ bản của Phật giáo Đại thừa như Pháp. Vô thường, tái sinh, nghiệp, quả báo, tính Không. Trong đó cũng dé cập đến Tâm từ, tâm dai bi của Nhà Phật.
“Tam từ có năng lực ban phát hạnh phúc tạm thời cho chúng ta trong đời này. Khi một việc làm nào có khả năng đem lại hạnh phúc cho ta, thì việc làm đó chỉ là một thải độ khôn ngoan. Bởi thế, ta nên thực hành tâm từ đối với người khác. Dù cho lòng thương của ta có hòa lan với sự ràng buộc, thì nó vẫn còn có lợi ích.
Dù có tôn giáo hay không tôn giáo, yêu thương vẫn là điều quan trọng” [Geshe Kelsang Gyatso, 2012, tr189]. Va: “Phật giáo được định nghĩa do cách suy tu và hành động của một con người. Nhưng dù họ là Phật tử hay không phải Phật tử, thì điều rất quan trọng van là mọi người phải thương nhau. Tâm từ nuôi dưỡng sự phát triển tâm linh và suối nguồn của tất cả hạnh phúc.
Tâm Đại bị của Phật giáo được tác giả nhìn nhận dưới góc độ, tâm đại bi là một tư tưởng tốt lành với mong muốn người khác thoát khỏi khổ dau, tâm dai bi muốn làm vơi bớt những nỗi thống khổ và rắc rối của thế giới hữu tình. Và tác giả phân tích về những lợi ích mà tâm đại bi mang lại: “Người ta bảo rằng có nhiễu lợi lạc do sự thực hành tâm đại bi quý báu này mang lại. Nếu ta thực hành dai bi tâm, điều này sẽ giúp ta cảm 17 nghiệm được phúc lạc và sự an bình, và cũng giúp đem lại sự an tâm cho những chúng sinh khác. Tâm đại bi làm tiêu tan những tu tưởng tiêu cực trong ta như giận dit, ganh tị,.
và giúp ta khắc phục được tâm bệnh. Sự thực hành tâm dai bi làm cho tâm ta rất an ồn và giúp tịnh hóa những hành vi tiêu cực hay ác nghiệp cua chúng ta” [Geshe Kelsang Gyatso, 2012, tr190]. Dưới góc độ Triết học, tác giả O.Rozenberg tiếp cận các vấn đề triết học Phật giáo trong cuốn sách Phát giáo những vấn dé triết học. Tác phẩm đề cập đến những vấn đề cơ bản của triết học Phật giáo như: Siêu hình học, thế giới quan, nhận thức luận, bản thể luận, thuyết Dharama, các phạm trù cơ bản như: Visaya, Indria,.
Trong tác phẩm này, tác giả phân tích triết lý Phật giáo VỀ sự giải thoát của Phật giáo, phạm trù giải thoát sẽ được nhắc đến khá nhiều trong phạm vi luận án khi nghiên cứu về biểu hiện của tư tưởng từ bi của Phat giáo: Từ bi và mong muốn hết thay chúng sinh được giải thoát. Giải thoát của Phật giáo là thứ giải thoát triệt dé, đồng thời, không tách biệt giữa các cá thé: “Giải thoát chung sinh, như vậy là sự tự giải thoát cua Chân nhự. Đức Phật giải thoát chúng sinh cũng là giải thoát mình; chúng sinh giải thoát mình cũng là giải thoát Phát. Sự hoàn thiện của từng cả thể là sự hoàn thiện của tất cả, và giải thoát mối hoàn thiện nghĩa là giải thoát từng phan của Chân như.
Sự thống nhất tat cả như các phan của cái tuyệt đối là tiền dé dé giải thoát của mỗi cá thé tách biệt, là cơ sở để mỗi cá thể hướng tới sự yên tịch vĩnh hằng không phải là riêng mình mà là một phan của toàn thể” [O. 218] Trong tác phâm này tác giả cũng phân tích các dạng chúng sinh. Đây là cơ sở quan trọng đề luận án kết thừa và phát triển dé thay tinh bao trùm của tư tưởng từ bi của Phật giáo, không phải chỉ là tình thương yêu, thấu cảm đối với đồng loại mà là tình thương yêu, thấu cảm đối với tất cả chúng sinh. 18 Cuốn Đạo Phật và tu tưởng bình dang của Nhiều tác giả (2008), Nxb Lao Động.
Cuốn sách tổng hợp bài viết của nhiều tác giả khác nhau đề cập đến một số khía cạnh xoay quanh vấn đề tư tưởng bình đăng. Trong đó có bài viết đề cập đến vấn dé trí tuệ và từ bi trong Phật giáo của tác giả Huyền Thương. Tác giả gợi mở vấn đề nghiên cứu bằng những hiện tượng thường thấy trong các tôn giáo: một số tôn giáo dé cao lòng từ bi hay gọi khác là tình thương yêu thì lại thường thiếu han việc trau đồi và mở mang trí tuệ.