Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VA THỰC TIEN VE PHAT HUY NGUON LUC CAC TON GIAO TRONG DOI SONG XA HOI 1. Một số van đề lý luận về phát huy nguồn lực của tôn giáo trong đời sống xã hội 1. Khái niệm về nguồn lực và nguôn lực tôn giáo Theo Từ điển Tiếng Viét’, thì khái niệm “Nguồn lực là nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần phải bỏ ra dé tiễn hành một hoạt động nào đó: nguồn lực tài chính, thu hút nguồn lực đầu tư”. Theo tác giả Trương Văn Chung trong bài viết: Tôn giáo ở Việt Nam - Một nguồn lực mới góp phan phát triển xã hội bên vững (2014), thì “Nguồn lực là tổng thể các lực lượng vật chat và tinh thần được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng đề phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia”.
Trong bài đăng Tạp chí công tác tôn giáo số 7 (180) - (2021), Ban Tôn giáo Chính phủ, tác giả Dinh Quang Tiến ban một số khái niệm về nguồn lực: “Nguồn lực là toàn bộ những yếu to đã, dang và sẽ có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy quá trình cải biến tự nhiên và xã hội" hoặc được hiểu là “* Nguồn lực là một hệ thống các nhân tô cả về vật chất lẫn tinh than đã, dang và sẽ có kha năng góp phan thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia dân tộc ` (tr. Theo cách tiếp cận tông thé, nguồn lực là tài nguyên, giá trị đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc, cộng đồng. Nguồn lực được chia thành nhiều loại như: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia, nguồn lực con người, khoa học công nghệ, vốn, thị trường, đường lối chính 7 http://tratu.vn›dicbvn_vn› 5 http://css.Trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất, quyết định các loại nguồn lực khác. Có thể phân loại cơ bản như: Nguồn lực vật chất; Nguồn lực tinh thần; Nguồn lực con người (nguồn nhân lực); Nguồn lực xã hội, Nguồn lực tài nguyên.
Như vậy có thé khái quát nguồn lực là những yếu tô tác động tích cực đến sự phát triển. Nguồn lực được thể hiện ở 2 dạng cơ bản: là nguồn lực tự nhiên (đất đai, khoáng sản, khí hậu, rừng, biển.) và nguồn lực xã hội (con người, văn hóa, vốn, thị trường, khoa học — công nghệ, chính sách, tôn giao. Từ khái niệm chung ở trên, ta có thé đối chiếu với nguồn gốc, chức năng xã hội, vai trò của các tôn giáo với đời sống xã hội dé làm rõ khái niệm về nguồn lực tôn giáo. Thực tế ở Việt Nam, các thuật ngữ, khái niệm: “nguồn lực tôn giáo”, “nguồn lực các tôn giáo”, “các nguồn lực của các tôn giáo”.
mới được dé cập mấy năm gần đây. Các nhà khoa học, lãnh đạo, quản lý, chức sắc tôn giáo cũng có những quan niệm về nguồn lực tôn giáo theo cách tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào ưu thế, sự đóng góp của các tôn giáo nói chung, từng tôn giáo nói riêng trong từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Thời gian qua, các học giả, nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm liên quan đến “nguồn lực tôn giáo”, như: Theo Đỗ Lan Hiền trong bài Bàn về việc phát huy nguồn lực tôn giáo ở Việt Nam hiện nay’, khái niệm nguồn lực tôn giáo: “Là tổng thể các lực lượng vật chat, tinh thần của tôn giáo có khả năng sử dung dé phục vụ cho sự phát triển trước hết là của chính bản thân tôn giáo, sau đó là đến phát triển cộng đông xã hội”.php›dien-dan› item»>4m 12 Theo Lê Thị Liên, trong bài Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển đất nước, thì khái niệm nguồn lực tinh thần tôn giáo: là giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo được thé hiện trong hệ thống triết ly và những điều ran, giới cam nhằm điều chỉnh ý thức, hành vi của tin đồ và được tin đồ tin theo một cách tự nguyện, tự giác; Nguồn lực vật chất của tôn giáo được kết hợp bởi hai yếu tố nguồn nhân lực và nguồn vốn. Tác giả Trần Thị Thúy Vân với đề tài nghiên cứu “Phát huy nguồn lực tinh thần tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay” đăng trên Tạp Chí khoa học Chính tri sé 08-2021, thi nguồn lực tinh thần của tôn giáo chính là các giá tri, chuẩn mực, dao đức ân trong hệ thống kinh điển cũng như những quy định, hién chương, điều lệ của tô chức tôn giáo.
Các quan niệm về các nguồn lực của các tôn giáo đều thống nhất ở những điểm sau: khăng định vai trò của tôn giáo, coi những tác động tích cực của các tôn giáo là một trong những nguồn lực quan trong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trách nhiệm xã hội của tôn giáo (trách nhiệm đóng góp về mặt giá trị tinh thần), hay những đóng góp của tôn giáo với văn hóa, đạo đức.; đều thừa nhận các nguồn lực của các tôn giáo ở hai phương diện: nguồn lực tinh thần và nguồn lực vật chất, trong đó nhấn mạnh nhiều hơn ở nguồn luc tinh thần - đó là các giá trị nhân bản, văn hóa, đạo đức tôn giáo; các nguồn lực của các tôn giáo tham gia vào tất cả các quá trình, lĩnh vực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó ưu thế, đóng góp tiêu biểu ở các lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo. Như vậy, có thé hiểu nguồn lực của tôn giáo là bao gồm nguồn lực con người (chức sac, chức việc, tín đồ); các gia tri vật chat va tinh than mà các tôn giáo tham gia đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia, một địa phương. Cả hệ thống chính tri và toàn xã hội, thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, trong những hoàn cảnh lich sử cụ thé, khai thác, 13 sử dụng những giá trị vật chất và tinh thần của tôn giáo một cách thích hợp, dé các cá nhân và tổ chức tôn giáo có thé tham gia tích cực vào công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về nguồn lực tôn giáo - Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư trởng Hồ Chi Minh về những tác động tích cực của tôn giáo đối với đời sống xã hội: Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lénin không chỉ vạch ra vai trò tiêu cực của tôn giáo mà còn chỉ rõ những đóng góp tích cực của tôn giáo đối với sự phát triển một số quốc gia dân tộc, trong những điều kiện lịch sử cụ thé.
Trong mối quan hệ với tư duy, đã có thời kỳ: Tôn giáo là hình thức tư duy cao nhất mà sự đã man ấy có thê đạt tới, giáo điều của giáo hội là khởi điểm và cơ sở của mọi tư duy, trực tiếp chỉ ra những mặt tích cực trong các hoạt động tôn giáo: “7rong tôn giáo, ngoài ảo tưởng mặt thực tế, tìm tòi cái tot hon, tim tòi sự che chở, sự giúp đỡ, là cực kỳ quan trong’. Những giá tri đó có những điềm tương đồng với lý tưởng của chủ nghĩa xã hội: “Ca đạo Cơ Đốc lan Chủ nghĩa Xã hội công nhân đều tuyên truyền sự giải phóng con người trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và nghèo khé”" http://btgcp. Tư tưởng đoàn kết lương giáo ở Hồ Chi Minh được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc. Có thé thấy, tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh được hình thành trên những cơ sở kế thừa tinh hoa của truyền thống đoàn kết toàn dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đoàn kết các tôn giáo với nhau năm trong chiên lược đại đoàn kêt dân tộc của !9 V.LLénin Toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.Angghen Toàn tập, tập 22, Nhà xuât bản Chính trị quôc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. Đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chi Minh là đoàn kết rộng rãi mọi tang lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo. Đoàn kết là một chiến lược lâu dài chứ không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời. Năm 1955, phát biểu trong Hội nghị Mặt trận Liên Việt, Người khang định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài.
Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thong nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết dé xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự Nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”!?. Đoàn kết là một tư tưởng lớn, bao trùm của Hồ Chí Minh, chính nhờ vậy mà Người đã quy tụ, tập hợp được toàn dân tham gia kháng chiến và kiến quốc thắng lợi.
Trong đó, đoàn kết giữa những người cộng sản với những người có tín ngưỡng tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và giữa những người có tín ngưỡng với những người không có tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng đại đoàn kết dan tộc của Hồ Chí Minh. Đây là nguồn lực hết sức quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng, phát huy xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Về nguồn lực của các tôn giáo trong quá trình thực hiện sự truyền bá tôn giáo của mình, Hồ Chủ tịch khăng định “Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”). Về nguồn lực văn hoá của các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận tôn giáo như một dạng thức của văn hóa, có những giá tri văn hóa, dao đức mang tính nhân văn, hướng thiện, mưu câu hạnh phúc cho con người.
Người 2 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr.438 !3 Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Điều 1. 15 viết: “Vi lẽ sinh ton cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phat minh đó tức là văn hóa”“.