đặt vấn đề, đã giải rỏ vấn đề và các đệ tử đã hiểu gọi là "Thuận thành", thuật thành xong Đức Phật thụ ký cho thành Phật. Về sự phân tích bố cục của Tích môn như trên chúng ta thấy nổi bật bốn tiêu đề chính: Khai triển, Tri kiến Phật, Chư Pháp thật tướng, thụ ký thành Phật. Bản Môn; Bản môn là giáo lý biểu hiện mối quan hệ giữa Đức Phật và con người tức là sự cứu độ con người của Đức Phật. Sự cứu độ này tùy thuộc vào lòng Từ bi của Đức Phật và lòng Từ bi này là tinh thần chủ yếu của Bản môn.
Pháp thân thường trú nơi mỗi con người từ xưa đến nay chưa từng sinh diệt, không hạn cuộc bởi thời gian, không gian, không đến, không đi, không hoại,… vì vậy mà Phật nói "Tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật". Tư tưởng này, Kinh Pháp Hoa thì gọi là "Tri Kiến Phật". Kinh Lăng Nghiêm thì gọi là "Chân Tâm thường trú", "Như Lai Tạng". Thiền Tông thì gọi là "Vô sư trí", "Bản lai diện mục", "Ôngchủ".
đều chỉ cho thụ lượng của Như Lai hay Pháp thân thường trú nơi mỗi chúng sinh, đó chính là tông chỉ của Bản môn. *Phẩm Tùng địa dũng xuất thứ mười lăm: Do công phu tu hành, trở về Phật tính, tự nhiên thân này chứng được "Vô sư trí", Trí này phát xuất từ Pháp thân, nên Bồ Tát từ "Đất đi lên", Trí này do công năng tu hành có khả năng chống lại sinh tử, từ nơi Chân tính mà có nên không bị sinh diệt chi phối, vì vậy Đức Phật phủ nhận Bồ Tát ở tha phương duy trì, truyền bá Kinh Pháp Hoa ở cõi này, mà chỉ có Bồ Tát từ đất đi lên mà thôi, vì Bồ Tát tha phương là Trí hữu dư, do học tập được, vì còn phân biệt, nếu còn phân biệt thì sinh tử, sinh diệt, nên không có khả năng bảo vệ Phật tính chính mình. 20 z *Phẩm Như Lai Thụ Lượng thứ mười sáu: Khi đã có Vô sư trí thì mới có thể nhận rõ được Pháp thân (Phật tính) mà Pháp thân thì bất sinh, bất diệt, hằng hữu, vĩnh cửu,. không bị thời gian chi phối, Pháp thân có sẵn ở thân này, nhưng mọi người không nhận ra, khi Vô sư trí phát sinh thì được Pháp thân.
Vì vậy mà khó tin, khó nghĩ bàn, đó cũng là thân Phật vậy, nếu tin nhận, thì không thể nào lường được, đó chính là thân Kim Cương vậy. *Phẩm Phân Biệt Công Đức thứ mười bảy: Đối với Pháp thân thì bất biến, nếu người nào tin nhận là đã trở về với Chân tính, nếu nhận chân được Pháp thân là vô sinh, thì được Công đức vô lượng, vì vậy mà công đức của thế gian là công đức tương đối, hữu hạn, nếu đem so sánh công đức của Pháp thân thì không có công đức nào sánh kịp. *Phẩm Tùy Hỷ Công Đức thứ mười tám: Công đức của người biết được Pháp thân thì rất là cao tột, nếu ai phát Tâm tùy hỷ thì công đức vô lượng, vô biên, ở đây tùy hỷ có phần nhận hiểu, thấu đáo, khuyến khích người khác, tán dương người nghe Kinh, đó là công đức không thể lường. *Phẩm Pháp Sư Công Đức thứ mười chín: Công đức của Pháp sư hay công đức của người sống với Tri kiến Phật y cứ nơi các căn, nếu các căn là điểm sáng của viên ngọc tính giác, vì không nương sáu căn thì không thể thấy được tính giác, nghĩa là phải luôn sống với tính thấy, tính nghe của mình là vào được cửa ngõ của Niết bàn, khi sáu căn đã thuần tịnh, không tạp nhiễm thì tự nó trở thành lục thông, đó là thần thông không cần luyện tập.
*Phẩm Thường Bất Kinh Bồ Tát thứ hai mươi: Người sống với Tri kiến Phật khi truyền bá phải kiên trì, nhẫn nại, vì làm một việc rất khó làm. Cho nên biết mọi người có Phật tính, thì người đắc trước làm sao dám Khinh người đắc sau, người đã ngộ chỉ cho người sẽ ngộ, duy chỉ có Thường bất Khinh Bồ Tát thôi. Ngài trì và truyền bá Pháp Hoa 21 z bằng cách gặp ai cũng nói rằng: "Tôi chẳng dám khinh Quí Ngài, Quí Ngài đều sẽ thành Phật" [33, tr.430], tu nhân như vậy, thì quả sẽ là thành Phật, gieo nhân như vậy mà mọi người được dự Pháp hội. Trì Kinh bằng cách sống với Tri kiến Phật, gieo cho mọi người có niềm tin Phật ở chính mình.
*Phẩm Như Lai Thần Lực thứ hai mươi mốt: Khi đã sống với Pháp thân thì rất là diệu dụng, bất khả tri, bất khả tư nghì, bất khả thuyết, những diệu dụng ấy do Vô tác diệu trí mà có, không cần phải dụng công. Diệu dụng công phu tu hành trở về với Phật tính là lẽ thật, không còn nghi ngờ gì nữa, cho nên Phật hiển bày tướng lưỡi rộng dài, mà lẽ thẳng cùng cực, tất cả lỗ chân lông của Phật phóng ra ánh sáng hào quang, đó chính là thân Phạm hạnh trong sạch của Ngài. *Phẩm Chúc Lụy thứ hai mươi hai: Tri kiến Phật là tuệ mệnh của chúng sinh, là Trí tuệ của Chư Phật, con đường giải thoát giác ngộ không lối nào khác hơn. Cho nên phải truyền bá cho mọi người nhận ra Phật tính là trách nhiệm hàng đầu của người con Phật.
Tri kiến Phật là ngọn đèn duy nhất phá tan màn đêm vô minh của thế gian. Vì thế cho nên Đức Phật giao phó cho các đệ tử của Ngài truyền bá rộng rãi cho mọi người để họ được lợi lạc. Tri kiến Phật đã có sẵn trong tất cả loài hữu tình của chúng ta. "Tất cả chúng sinh đều có Phật tính".
*Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự thứ hai mươi ba: Trên đường tu tập có rất nhiều ma chướng, phiền não và nghiệp chướng, do đó người tu hành muốn diệt ma chướng phải diệt ngũ ấm ma (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) thì mới có thể đi đến quả Phật, những ma ấm ngăn che, không cho Phật tính hiển lộ. Bồ Tát khi được Chính định, "Hiện sắc thân tam muội" là phá trừ phiền não, liền thiêu thân để cúng dàng Phật. Pháp thân là thể của Báo thân và Hóa thân. Khi nhập "Hiện sắc thân" thì Bồ Tát xả bỏ thân này như bèo, như bọt, như hoa đốm,.
không còn ngã và ngã sở, xả sắc thân để được Pháp thân, khi xả sắc thân thì phải xả sắc trần, mới gọi là phá sắc ấm. 22 z Vì thế mà Bồ Tát đốt hai cánh tay để cúng dàng Phật, khi ngã chấp và Pháp chấp không còn thì đó mới thật là chân thật cúng dàng Như Lai. *Phẩm Diệu Âm Bồ Tát thứ hai mươi bốn: Khi đã phá trừ "Sắc ấm" thì phải diệt "Thụ ấm" vì thụ ấm không có hình tướng, nên biểu trưng cho Ngài Diệu Âm đến, tất cả chúng hội đều không thấy, (vì diệu dụng) chờ Phật chỉ dạy thì mới thấy. Bởi nhận được Pháp thân thì cái gì cũng "Hư giả" nên cần phải diệt.
Bồ Tát Diệu Âm từ xa lại, biểu thị sáu trần từ ngoài đến mới có thể lĩnh thụ, xả lĩnh thụ, không cố chấp là diệt thụ ấm. Nhân tu của Bồ Tát Diệu Âm là dùng âm thanh vi diệu và bát vàng để cúng dàng Phật, nên được hưởng quả báo tốt đẹp và được nhiều diệu dụng, nếu buông xả âm thanh và bát vàng là buông xả sắc tướng, là cúng dàng Phật, ở đây âm thanh và sắc trần cũng là tiêu biểu cho hai thứ nổi bật ở lục trần, đây là biểu hiện ở bên trong, cho nên Bồ Tát Diệu Âm chỉ đánh thức hành giả bên trong, hiện lên trong lòng rồi cùng biến mất, đó là tiêu biểu ý nghĩa của phẩm này vậy. *Phẩm Phổ Môn thứ hai mươi lăm: Đối với phẩm này là phá trừ "Tưởng ấm", vì Quán: là Tưởng (nghe) tưởng là nhân đau khổ của chúng sinh vì có tưởng, đối với chúng ta khi nghe, tưởng lại quá khứ thì càng thấy sợ sệt, vì vậy mà mọi đau khổ ở thế gian là do Tưởng, diệt Tưởng là hết khổ đau, cho nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm là hết khổ đau. Quán Thế Âm là nghe lại tính nghe của mình, biết mình, về với tính giác thì vọng tưởng đều lặng xuống, thì đau khổ nào chẳng khỏi, sống với tính giác thì mọi công hạnh được đầy đủ.
Cho nên ở sáu căn, Nhĩ căn là Viên thông hơn cả, người muốn trở về với Phật tính nên từ Nhĩ căn mà tu, thì chóng được kết quả, cho nên Kinh nói: Niệm danh Quán Thế Âm Bồ Tát thì công đức thù thắng vô lượng, nên Quán Thế Âm là nghe tiếng kêu của chúng sinh mà cứu độ. Cho nên Quán Thế Âm là nghe lại Tính giác của mình, nếu Quán được thanh tịnh thì Trí tuệ phát sinh, lòng Từ bi đầy đủ, luôn quán như 23 z vậy cho đến khi nào đầy đủ, thanh tịnh thì Trí sáng suốt hiển lộ soi sáng cho cả thế gian, diệt trừ mọi vọng tưởng phiền não điên đảo về với Phật tính vậy. Đây là phẩm trọng yếu của Kinh. *Phẩm Đà La Ni thứ hai mươi sáu: Giữ gìn hạnh lành, chủ yếu phá các "Hành ấm" đó là suy nghĩ bên trong, vừa tế nhị vừa sâu kín nên khó có thể phá được.
Người phá được thì thấy tịch tịnh nên gọi là Niết Bàn, ở đây có thể lạc vào tà kiến, ngoại đạo (Yoga) hoặc rơi vào trạng thái mê mờ cho rằng mình đắc quả vị quả là nguy hiểm, nhưng nếu dứt sạch vọng tưởng điên đảo, cần phải buông sạch mọi thầm lặng vi tế, nên tượng trưng bằng thần chú. Khi đọc thần chú không thể hiểu biết gì, cho nên nhờ Chư Phật và Bồ Tát hộ trì, khích lệ mới có thể vượt qua, thể hiện tinh thần đó là các vị Bồ Tát, Thiện thần nói Thần chú, bảo hộ người trì Kinh Pháp Hoa. *Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự thứ hai mươi bẩy: Đây là chặng đường cuối cùng trở về với Phật tính, tu tập các Pháp, là phải trừ được "Thức ấm", nếu vượt qua thì đến cõi Phật (Tính giác). Vua Diệu Trang nghiêm là ý nghĩa Giới đức mầu nhiệm, có khả năng chứa nhóm công đức đầy đủ qua các thời gian tu tập (tàng thức), Tịnh đức phu nhân là người đầy đủ đức hạnh, cảm thông với tất cả, hiểu được tạng bí yếu của Như Lai (ý căn).
Tịnh Tạng là phúc đức, Tịnh Nhãn là Trí tuệ. Cho nên Kinh nói: "Phật vì muốn dẫn dắt Vua Diệu Trang Nghiêm và thương tưởng hàng chúng sinh nên nói Kinh Pháp Hoa".