CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO KHÁT SĨ VÀ NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN 1. Khái quát về Phật giáo Khát sĩ 1. Bối cảnh ra đời và phát triển của Phật giáo Khat sĩ Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, trong quá trình ton tại và phát triển đã có sự hoà mình vào văn hoá, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của dân tộc. Trong đó chủ yếu là người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm.vùng miền Tây Nam Bộ đất phì nhiêu trù phú, bản chất con người lương thiện, hiền hòa, song chủ yếu bằng nghề nông.
Người miền Tây lỗi sống cởi mở, hiểu khách và phóng khoáng, không khuất phục cường quyền, sẵn sàng làm việc hiếu nghĩa, bênh vực kẻ yếu, rộng lòng cứu tế người cơ ban. Đặc trưng trong mỗi con người Nam Bộ ké trên là điều kiện dé họ dễ dàng giao lưu văn hóa, thích nghi với mọi sinh hoạt, giao thoa với các tín ngưỡng dân tộc khác. Họ chuộng những cái mới, thích đời sống đạo đức, chuộn lối sống hào phóng. Chính vì vậy nên các tôn giáo nội sinh rất dé phát triển và công cuộc truyền đạo được thuận lợi và phát triển nhanh chống.
Trong cuộc đấu tranh chống áp bức cường quyên, ngoài việc giáp mặt với kẻ thù bang vũ lực, còn có những hình thức đấu tranh bang tôn giáo. Tôn giáo chủ yếu được họ sử dụng dé tập hợp lực lượng. Ngay trước khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Nam Bộ đã dùng hình thức tôn giáo dé chống lại triều đình nhà Nguyễn. Trong giai đoạn thực dân Pháp đây mạnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam với nhiều chính sách vơ vét của cải đưa về chính quốc, làm cho vết thương lòng người dân càng dâng tràn, họ rất cần một nơi nương tựa tinh thần trước những sự bat công của xã hội hiện thời.
Họ muốn vơi đi những nỗi thống khổ, trốn chạy khỏi xã hội đau thương hiện tại, di tìm nơi nương tựa, cần chốn bình an, vì quanh ho lam sự bat công, áp bức. Chính vùng đất Nam Bộ bị thực dân Pháp bóc lột nông nghiệp nhiều nhất. Đời sống người dân rơi vào sự bế tắc, người dân cơ cực, nghèo túng dưới sự đây mạnh khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trong giai đoạn này thì sự suy thoái của các tôn giáo ngày một nhiêu, làm lòng tin người dân nơi đây 10 không biết đi đâu về đâu.
Và đạo lý truyền thống giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là những nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện nhiều tôn giáo mới ở Nam bộ, trong đó có hệ phái Phật giáo Khất sĩ. Sự ra đời của hệ phái Phật giáo này ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX là một tất yếu lịch sử. Sự xuất hiện Tổ sư Minh Đăng Quang nhằm mục đích chắn chỉnh lại những lối sống hưởng thụ, nối truyền lại con đường Phật khi xưa, tập trung cho việc tu tập, sống đúng theo giới luật, hành hạnh không giữ tiền, ăn ngày một lần, đầu trần chân không, sống hạnh khất thực hóa duyên. Hệ phái Khat sĩ ra đời trong bối cảnh của vùng đất mới cùng với sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, Bửu Sơn Ky Hương, Tứ Ân Hiếu Nghia, cùng các Hội kin Nam Ky trong phong trào chống phong kiến và thực dân Pháp.
Bên cạnh đó, nó đáp ứng nhu cầu người dân nơi đây thoát áp bức, sự đô hộ, muốn gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc, muốn thoát khỏi sự lệ thuộc về ngôn ngữ ngoại lai, muốn thoát khỏi sự lệ thuộc Hán tự của Phật giáo Bắc truyền, đồng thời cũng không sử dụng ngôn ngữ Pali hay Sancrít của Phật giáo Nam truyền hay bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ của thực dân xâm lược bấy giờ là tiếng Pháp. Bằng sức sáng tạo và bản địa hoá, sử dụng chính tiếng Việt - ngôn ngữ Quốc ngữ được sử dụng dé diễn đạt, đồng thời định hình hệ thống kinh sách riêng trên cơ sở hoà hợp tư tưởng của cả hai dòng Phật giáo Nam - Bắc truyền. Với những giáo lý, giáo luật căn bản của Phật giáo Khat sĩ được chính Ngài Minh Dang Quang viết ra đã góp phần phù hợp với tâm thức và tín ngưỡng của một bộ phận cư dân vùng đất Nam Bộ. Từ đó, Phật giáo Khat sĩ lan toa rất nhanh chóng, cắm rễ rất sâu và biến thành sức mạnh, tạo thành trào lưu kháng lại những nền văn hóa ngoại.
Hệ phái đã khẳng định được bản sắc và sức sáng tạo của văn hoá bản địa Nam Bộ. Bộ “Chơn lý” được Ngài Minh Đăng Quang biên soạn đã có sự tóm lược, ngắn gọn và dễ hiểu hướng đến đại đa số dân chúng, và được dân chúng nhanh chóng tiếp nhận như một hình thức tôn giáo ban dia đù mới mẻ nhưng lại hết sức gần gũi, quen thuộc với thé thơ rất dễ đọc và dễ nhớ. Phật giáo Khất sĩ ra đời ở Việt Nam năm 1944, trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của phong trào chan hung Phật giáo trên thé giới và trong nước dau thế kỷ 11 XX. Phong trào chan hưng Phật giáo nỗ ra trên khắp thé giới, bắt nguồn từ An Độ.
Cư sĩ người Tích Lan về sau xuất gia với pháp danh là Mapala [50, tr.753] và được truyền qua nhiều nước Phật giáo như: Trung Quốc, Miễn Điện, Nhật Bản.Cuộc vận động chấn hưng Phật giáo từ Thiền sư Khánh Hòa. Năm 1923, nhân dịp giỗ tổ chùa Long Hoa, Trà Vinh ông cho mời các bậc tôn túc khắp miền Tiền Giang và Hậu Giang về dự lễ bàn về vấn đề chấn hưng Phật giáo. Sau đó, hội Lục Hòa Liên Hiệp được thành lập với mục đích vận động thành lập một hội Phật giáo toàn quốc. Theo nhận định của tạp chí Viên Âm cho rằng có bốn nguyên nhân dẫn đến phong trào chấn hưng Phật giáo: 1.
Sự sụp đồ niềm tin đối với Nho giáo, mà thay vào đó là niềm tin Phật giáo được xây dựng nên tang văn hóa cho dân tộc vừa tiên bộ, vừa không mat gôc. Phật giáo đủ khả năng “phân biệt chánh tà” trong quá trình tiếp nhận văn hóa Tây phương và hình thành văn hóa mới.Tinh than Phật giáo thích hợp với tinh thần khoa học và tính tự lực, tự cường dan tộc. Nghi lễ Phật giáo đã có gốc rễ lâu đời, nhưng chỉ phương tiện truyền đạo, cần xiên đương giáo nghĩa Phật giáo, tân tiến, sống động, đáp ứng được nhu cầu của những thế hệ mới [13, tr 764,767]. Sự ra đời của Phật giáo Khất sĩ cho thấy tính sáng tạo của người Việt và quá trình bản địa hoá Phật giáo địa phương tại vùng đất Nam Bộ.
Dao Phật Khát sĩ là một giáo đoàn rất mới và sau so với Bắc truyền và Nam truyền nhưng rất thuần Việt, không sao chép bản chính như các tôn giáo khác. Chính ngài Minh Đăng Quang sáng lập trong bối cảnh đất nước bị đô hộ và thực dân Pháp kìm kẹp. Trong giai đoạn này Phật giáo chịu sự ảnh hưởng bởi đạo đức xã hội xuống dốc tram trọng, việc tu học bê tha trì trệ, đời sống Tăng Ni nghiên về cúng, cầu nguyện, xin xăm bói qué, biến các Tự viện thành nơi tín ngưỡng nhân gian, có tính riêng tư, người tu có gia đình, không còn sống độc thân, giới hạnh và sự tu trì không còn nghiêm túc. Chính vì đó làm niềm tin Phật tử bị mất dần.
Trước thực trạng đau lòng đó, các tôn giáo đã khởi phát phong 12 trào chân hưng Phật giáo, các tôn giáo tại miền Nam xuất hiện rất nhiều. Trên tinh thần ấy, Tổ sư Minh Đăng Quang đã kêu gọi Tăng đồ hãy mạnh dạng cùng chung tay với Ngài chấn hưng Phật giáo mỗi người phải nỗ lực hành trì, thực tập cho thấu đạt chân lý, chứ không phải nói suông, tự thân phải biết trách nhiệm của mình với đạo Pháp và Dân tộc cùng ngài làm cho đạo Pháp nước nhà được phát triển. Với phương châm “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”, thực hành Giới, Định, Tuệ, thực hiện nếp sông lục hòa, hành trì Tứ y pháp. Trong Chon lý bài “ Tông giáo” Ngài đã viết “ Tăng chúng phải đủ giới luật dé quy hợp cư gia, dé gắn liền tông giáo, hau vet bóng mê tín, đem cối đời trở lại y như Phật hồi xưa kia”.
“ hãy nghĩ đến Đạo, đến Phật, đến chúng sanh. phải nâng cao giới luật, đó mới là Phận sự của Tăng bảo. thì tạo nắc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu cho người nguy, đó mới là phận sự chánh của người Tăng già. Thật vậy, chỉ có Tăng chúng mới đạo đặng” [21, tr.
Trong bối cảnh đó, “Đạo Phật Khat si” đã xuất hiện ở miền Nam Việt Nam và hành theo “Y bát chon truyền” với đời sống du phương, khat thực hóa duyên từ thôn sớm này sang tỉnh thành nọ, không trụ một chỗ, không vướng bận chỗ ở chùa chiền, đêm ngủ dưới gốc cây, nhà hoang, nghĩa địa. Ngài cho rằng “ Đạo Phật là con đường đi đến qua Phật giác chon. Con đường ấy là Khat sĩ. Họ của chư Phật ba đời là Khát sĩ.
Khat sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích của chúng sanh. Khat sĩ đến với giác chon, toàn học biết sáng tự nhiên mê lầm vọng động” [21,tr 63]. Ngài đã chat lọc tinh hoa kết tinh từ hai luồng tư tưởng chính là Bắc truyền và Nam truyền dé tạo nên “ Đạo Phật Khát sĩ Việt Nam”. Vì vậy về mặt hình thức thì đắp y, mang bát đất theo Nam truyền, hành trì giới luật theo Bắc truyền là 250 giới, còn phương pháp hành trì và tu tập lay giáo lý đạo Phật dé hành trì.
Từ năm 1944-1954 là thời kỳ khai mở, giai đoạn mười năm không dài và cũng không ngắn nhưng nó trải qua không ít khó khăn, gian nan. Với bình bát đất, dau tran, chân không, không tiền, ăn chay đạm bạc qua ngày, khat thực trên những con đường làng với dung hạnh thoát tục, một bát cơm ngàn nhà, chân di muôn dặm xa. Trong thời gian ngắn ấy, Phật tử theo qui y cả vạn người, thành lập hơn 20 tịnh xá. Từ đó cuộc sống Tăng, Ni dần ôn định, các tư tưởng Phật giáo đã lan tỏa rộng rãi do các bài 13 giảng của ngài đều là chữ quốc ngữ va thi kệ, thơ lục bát, từ ngữ rat dé hiểu dễ thực hành, đậm chất triết lý nhân sinh giúp mọi người dễ ứng dụng, làm cho cuộc sống ngày càng thăng hoa hơn.
Giai đoạn từ năm 1955 đến 1975 là thời kỳ phát triển và mở rộng về số lượng, cơ sở tịnh xá và tín đồ, hình thành các Giáo đoàn Tăng và Ni.