mở đầu cho công cuộc chấn hưng của Phật giáo đầu thế kỷ 20 được ghi nhận tại miền Nam vào năm 1926 và sau đó lan rộng ra khắp ba miền với các tên tuổi nổi tiếng như: Hòa thượng Khánh Hòa, sư Thiện Chiếu, Thích Tâm Lai (miền Bắc), v.v… Sau năm 1931, thực dân Pháp có sự điều chỉnh các chính sách tôn giáo, chính thức phê chuẩn cho phép các tổ chức Phật giáo được thành lập. Do đó, các tổ chức, tạp chí của Phật giáo lần lượt được hình thành, phong trào chấn hưng Phật giáo trên cả nước diễn ra mạnh mẽ. Những bước đi thích hợp, kịp thời của phong trào chấn hưng đã góp phần khắc phục tình trạng suy yếu của Phật giáo trong giai đoạn trước đó. Nó còn có ý nghĩa to lớn và quan trọng hơn đó là góp phần vào sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc.
Lịch sử đã ghi nhận sự gắn bó, đồng hành của Phật giáo với quá trình xây dựng và phát triển của dân tộc Việt Nam. Với bề dày của việc truyền đạo, giáo hóa chúng sinh, hoằng dương Phật pháp, chư vị tiền bối tổ sư đã định hình một 11 Luan van Phật giáo Việt Nam rất đặc trưng, linh hoạt, phù hợp với các tầng lớp quần chúng nhân dân. Trên nền tảng đó, tinh thần “Hộ quốc, an dân” luôn được duy trì kế thừa qua biết bao thế hệ của tín đồ Phật giáo. Qua bao cuộc thăng trầm cùng lịch sử của dân tộc Phật giáo Việt Nam đã tạo được vị thế riêng của mình trong lòng của quần chúng nhân dân nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung.
Trong bối cảnh xã hội Việt Nam ở nữa cuối thế kỉ 19 và nửa đầu thế kỉ 20, đất nước bị đè nặng bởi ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân lầm than, sinh hoạt, tu tập của các tôn giáo, tín ngưỡng trong dân gian cũng bị quản lý chặt chẽ hoặc cấm đoán. Việc truyền dạy giáo lý, sinh hoạt hoằng pháp của Tăng – Ni trở nên bê trễ, cầm chừng, chỉ lưu giữ những sinh hoạt thuần túy tín ngưỡng như: nghi lễ ma chay, cầu đảo phục vụ nhu cầu tâm linh. Cơ sở thờ tự, chùa chiền trở nên vắng vẻ và không còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của cộng đồng; không thể quy tụ các tầng lớp nhân sĩ trí thức mà chỉ còn duy trì những sinh hoạt thuần túy tín ngưỡng rời rạc của thế hệ cao niên trong làng. Người theo đạo Phật thì không hiểu hết về giáo lý giải thoát của Phật đà, các bậc cao tăng thì ẩn cư không ra hoằng pháp.
Trong bối cảnh lịch sử, xã hội đen tối của một dân tộc đang bị đô hộ, áp bức, cai trị bởi bọn thực dân, nhận thấy sự suy thoái nghiêm trọng của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn này, các nhân sĩ trí thức Phật giáo đã hình thành nên tư tưởng canh tân, chấn hưng lại nền Phật giáo nước nhà. Tình hình lúc ấy như cụ Tổ Khánh Hòa nhận định: “Phật pháp suy vi là do Tăng già thất học, trở thành mê tín dị đoan làm trò đùa cho thế gian”. Trên cơ sở đó, cụ Tổ Khánh Hòa đã đề xuất năm nội dung quan trọng của việc chấn hưng bao gồm: (1). Phải chấn chỉnh Tăng già; (2).
Thành lập tổ chức duy nhất, đoàn kết chung lo Phật sự; (3). Mở trường Phật học; (4). Phiên dịch kinh điển; (5). Mở rộng ban giao.143] Kể từ những năm 1930 trở về sau, cao trào đấu tranh của nhân dân chống lại ách thống trị của thực dân phong kiến lan rộng trên khắp mọi miền đất nước, sự kiện này đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tầng lớp trí sĩ Phật giáo.
Cùng với những 12 Luan van biến chuyển của xã hội, sự thay đổi trong chính sách của chính quyền thuộc địa về tôn giáo đã tạo điều kiện cho phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam hình thành. Tình hình Phật giáo ở khu vực miền Nam trong phong trào chấn hưng có ảnh hưởng rất lớn, đến sự thành lập các hội, đoàn như: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931), Liên đoàn Học xã tại chùa Viên Giác – Bến tre (1933), Hội Phật giáo Tương Tế (1934), Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934), Thiên Thai Thiền giáo tông Liên hữu Hội (1934, Hội Tịnh độ Cư sĩ (1934), Hội Phật học kiêm tế (1937), v.v… Các tổ chức này ra đời ngoài mục đích củng cố các giá trị tốt đẹp, nguyên bản của Phật giáo và những lời dạy của đức Phật mang một ý nghĩa khai hóa dân trí, giữ gìn bản sắc dân tộc. Đây cũng là một hình thức đấu tranh ôn hòa, bất bạo động của Phật giáo. Sự khủng hoảng của tôn giáo, tín ngưỡng ở giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là một biến cố lịch sử lớn và cũng là tình hình chung của không chỉ Phật giáo mà còn của phần lớn các tôn giáo, tín ngưỡng khác tại Việt Nam và Nam Bộ nói riêng.
Chính trong giai đoạn này, hội tụ đầy đủ các yếu tố về con người, văn hóa và lịch sử đặc trưng của vùng đất mới Nam Bộ, một số tôn giáo mới và các hệ phái của các tôn giáo truyền thống có xu hướng canh tân, phát triển, tạo dựng tổ chức riêng để thích nghi, đáp ứng thời cuộc. Các tôn giáo nội sinh, tôn giáo mới tại miền Nam có thể kể đến: Bửu Sơn Kỳ Hương do đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên sáng lập năm 1849, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do đức Bổn sư Ngô Hữu Lợi thành lập năm 1867 tại vùng Thất sơn, An Giang. Phật Giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939 tại An Giang. Đạo Minh Sư do người Hoa ở Tây Nam Bộ tiếp thu và truyền bá vào năm 1863, với các trụ sở đầu tiên như là Quảng Tế Phật Đường tại Hà Tiên và Chiếu Minh Phật Đường ở Cầu Kho (Chợ Lớn).
Ngoài ra còn cóMinh Lý Đạo Tam tông miếu lấy tam giáo làm tôn chỉ, dung hòa các tín ngưỡng, ra đời tại Sài Gòn năm 1924, đạo Cao Đài khai đạo năm 1926 tại Tây Ninh, đạo Tin Lành cũng đã được các giáo sĩ của Hội truyền giáo Phúc 13 Luan van Âm liên hiệp (The Christian and Misionary Alliance) từ Mỹ truyền vào Đà nẵng năm 1911 và phát triển mạnh tại khu vực miền Nam dưới sự ảnh hưởng của đế quốc Mỹ. Vào năm 1954, đạo Baha’i cũng đã có mặt tại miền Nam do một phụ nữ Ấn Độ truyền vào. Bên cạnh sự xuất hiện rất nhiều các đạo, tôn giáo mới thì ngay trong sinh hoạt của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Tây Nam Bộ như Khmer và Chăm cũng có mối quan tâm và thực hành tôn giáo truyền thống riêng như là Islam giáo, Bà la môn giáo và Phật giáo Nam Tông. Như vậy, tình hình sinh hoạt tôn giáo của khu vực miền Nam trong giai đoạn này rất phong phú, thể hiện tính đa dạng tôn giáo rất đặc trưng của cư dân bản địa ở vùng đất mới.
Quá trình hình thành Phật giáo Khất sĩ Bắc tông Việt Nam Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn nhận định: “Phật giáo Việt Nam ở thế kỉ 20 đứng trước thách thức chưa từng có: Làm thế nào có thể tồn tại và thích nghi với những biến động sâu sắc không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà còn trong phạm vi quốc tế đầy ắp những biến động dữ dội.” và thực tế hơn nữa là: “Phật giáo Việt Nam cũng sẽ đối diện với những vấn đề nội tại riêng tư, mà nói một cách khác, nó vừa phải tự mình “hiện đại hóa” trong khi vừa bảo lưu các nguyên tắc vốn đã sinh thành ra nó, vốn đã thâm nhập một cách sâu rộng trong xã hội Việt Nam từ cổ đến nay.5-9] Thật vậy, vai trò của Phật giáo đã trở nên mờ nhạt và bao trùm một không khí ảm đạm; chính vì lẽ đó các bậc trí sĩ Phật giáo đã chọn con đường chấn hưng, canh tân, đổi mới, đưa Phật pháp vào đời, khai tâm mở trí cho quần chúng, nâng cao vị thế của Phật pháp ứng dụng hơn là những nhu cầu thuần túy tâm linh, tín ngưỡng. Là những phần tử thức thời, những trí sĩ đau đáu với thời cuộc và vận mệnh của nền Phật học nước nhà, các vị tổ sư đã tiên phong lựa chọn các hướng đi riêng cho mình là giương cao ngọn cờ chánh pháp, phổ biến đạo Phật nguyên chất, thuần túy, gạt bỏ những yếu tố dân gian, khế hợp với tín ngưỡng, nhấn mạnh vai trò của việc ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống tu tập để chuyển hóa hơn là đơn thuần van xin, cúng bái. Chính vì thế, bên cạnh việc 14 Luan van thành lập các hội đoàn Phật giáo thì các tổ chức, sơn môn, hệ phái Phật giáo cũng tự tạo cho mình màu sắc riêng để xiển dương theo những đường lối mang tính đặc thù, biệt truyền. Việc “tự làm mới” hay “tự mình hiện đại hóa” nhưng vẫn duy trì các giá trị truyền thống, thể hiện ở cách ăn mặc và tu tập của tăng đoàn.
Có thể nhận thấy tư tưởng thay đổi cách ăn mặc để gần gũi hơn với truyền thống nguyên thủy của Phật giáo như là “quấn y, trì bát, khất thực, thực hành khổ hạnh đầu-đà” là các yếu tố luôn được hướng đến thực hiện. Như trên, các giá trị Phật giáo nguyên chất, thuần túy được lựa chọn gồm việc quấn y như thời đức Phật và thực hành “Tứ y pháp”: trước phấn tảo y (mặc áo cũ rách), thường hành khất thực (thường đi xin ăn), y thụ hạ toạ (ngồi tựa gốc cây), dụng trần hủ dược (dùng thuốc đơn giản để trị bệnh) [32, tr. Đặc biệt, các tổ chức Phật giáo Khất sĩ đã rất chuyên nhất trong cách hành trì và xiển dương đường lối tu tập đó. Đã có nhiều tổ chức, hệ phái, giáo đoàn chọn pháp tu này để tạo nên bản chất riêng và hành đạo theo lối biệt truyền được biết đến như: đoàn khất sĩ của Đại sư Huệ Nhựt xuất hiện năm 1945 tại Gia Định, đạo Phật khất sĩ của Tổ sư Minh Đăng Quang (1947), phái Liên tông Tịnh Độ non bồng của ngài Thiện Phước – Mẫu Trầu (1957), Đoàn khất sĩ Sơn Lâm của ngài Huỳnh Minh (1960), Giáo đoàn khất sĩ Ca Diếp của Giáo hội Phật giáo Kasyapa do ngài Giác Huệ thành lập (1972), nhóm khất sĩ thuộc Giáo hội Tịnh Độ Tông Việt Nam (1955) của ông Đoàn Trung Còn – Tỳ Kheo Thích Hồng Tại (1970), nhóm Khất sĩ tu tịnh của Hòa thượng Từ Huệ (1952) và Trưởng lão Giác Bảo (1954), v.v… Như vậy, các tổ chức Phật giáo khất sĩ đã được hình thành trước đại hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (1963) và duy trì mãi cho đến ngày nay.