ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------***------- VŨ THỊ ANH BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI NGHỀ GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI ĐÀI LOAN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG (NỮ) VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ Chuyên ngành : TÂM LÝ HỌC Mã số : 60.80 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ KHANH HÀ NỘI 2007 z MỤC LỤC PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Lý do chọn đề tài. Đối tượng nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Khách thể và phạm vi nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề thái độ. Điểm qua một vài nghiên cứu đầu tiên về nghề giúp việc gia đình (GVGĐ).
Một số khái niệm cơ bản của đề tài.1 Khái niệm thái độ. Định nghĩa thái độ. Đặc điểm thái độ.3 Cấu trúc thái độ. Chức năng thái độ.
Cơ chế hình thành thái độ. Sự thay đổi thái độ. Mối quan hệ giữa khái niệm thái độ và một số khái niệm có liên quan. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển thái độ.
Khái niệm nghề. Định nghĩa nghề. Đặc điểm của hoạt động nghề. Khái niệm nghề GVGĐ.
Định nghĩa nghề GVGĐ. Nghề GVGĐ tại Đài Loan. Đặc điểm nghề GVGĐ. Các đặc điểm tâm lý cần có của người làm nghề GVGĐ.
Động cơ chọn nghề GVGĐ tại Đài Loan của người lao động (NLĐ) (nữ) Việt Nam.1 Định nghĩa động cơ.2 Quá trình hình thành và biến đổi động cơ chọn nghề của NLĐ làm nghề GVGĐ tại Đài Loan.3 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới động cơ chọn nghề của NLĐ làm nghề GVGĐ tại Đài Loan. Vấn đề đào tạo nghề GVGĐ tại Đài Loan.1 Thời gian đào tạo.2 Nội dung đào tạo. Những khó khăn mà NLĐ nữ Việt Nam phải đương đầu trong quá trình làm nghề giúp việc tại Đài Loan. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU.1 Xác định mẫu nghiên cứu.2 Tiến trình nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN. Động cơ thúc đẩy NLĐ chọn nghề GVGĐ tại Đài Loan. Diễn biến thái độ của NLĐ Việt Nam đối với nghề GVGĐ. Thái độ của NLĐ Việt Nam đối với nghề GVGĐ trước khi sang Đài Loan làm việc.
Thái độ của NLĐ Việt Nam đối với nghề GVGĐ trong quá trình làm việc tại Đài Loan. Thái độ của NLĐ Việt Nam đối với nghề GVGĐ sau khi sang Đài Loan làm việc và trở về nước. Sự thay đổi thái độ của NLĐ đối với nghề GVGĐ trong cả quá trình trước, trong và sau khi làm nghề GVGĐ tại Đài Loan. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 3 z Ký hiệu viết tắt.
NLĐ: Người lao động. Nghề GVGĐ: Nghề giúp việc gia đình. NT: Tiền Đài Loan. ĐTB: Điểm trung bình.
XL: Xếp loại. GĐTKLVTT: Giai đoạn trước khi làm việc thực tế. QTLVTT: Quá trình làm việc thực tế. SKLV: Sau khi làm việc.
4 z PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Giải quyết công ăn việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng là một vấn đề không đơn giản, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Khi mà sản xuất nông nghiệp manh mún lạc hậu, các nghành nghề dịch vụ phi sản xuất phát triển rất chậm, quĩ đất giành cho nông nghiệp ngày một giảm, trong khi đó lại hạn chế về vốn đầu tư.
ở nông thôn, thời gian sản xuất chỉ kéo dài từ 3 đến 6 tháng (kể cả đã thâm canh tăng vụ) thời kỳ nông nhàn lại kéo dài từ 6 đến 9 tháng trong 1 năm. Làm thế nào để giải quyết công ăn việc làm tạo thu nhập cho phụ nữ nông thôn? Theo thống kê của cục niên giám thì trình độ học vấn của phụ nữ nông thôn rất thấp: chỉ có 40% tốt nghiệp PTCS và 8% tốt nghiệp PTTH, điều kiện để tiếp xúc và ứng dụng khoa học kỹ thuật rất hạn chế, cơ hội lựa chọn nghề nghiệp không có, kinh nghiệm làm việc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và chăm sóc con cái. Ngày 6-5-1999 văn phòng Kinh tế Văn hoá của Đài Loan tại Hà Nội và văn phòng Kinh tế Văn hoá của Việt Nam tại Đài Bắc ký thoả thuận một số nội dung và điều kiện cụ thể việc Đài Loan tiếp nhận lao động của Việt Nam sang làm việc có thời hạn tại Đài Loan, trong đó có lao động giúp việc gia đình, đây được coi là hướng mở cho chính sách xuất khẩu lao động của Việt Nam, và đây cũng được coi là một biện pháp xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, vì sau 2 năm lao động tại Đài Loan theo hợp đồng lao động người phụ nữ giúp việc gia đình sẽ được thực lĩnh số tiền lương sấp xỉ 103 triệu VNĐ sau khi đã trừ tất cả các khoản chi phí và thuế. Từ khi thoả thuận được ký kết số lượng các doanh nghiệp được phép xuất khẩu lao động đến Đài Loan , ngày một tăng từ 15 doanh nghiệp năm 1999 lên 137 doanh nghiệp năm 2003 và số lượng lao động sang Đài Loan làm nghề giúp việc ngày một nhiều, tính đến tháng 12/2003 là 3000 lao động 5 z giải quyết rất nhiều khó khăn cho phụ nữ nông thôn.
Trong khi nhu cầu của thị trường lao động của Đài Loan về lao động giúp việc lên đến 90000, mặc dù không chỉ tiếp nhận lao động Việt Nam làm nghề giúp việc nhưng do đặc tính cần cù, sáng tạo, tháo vát… lao động Việt Nam rất được các gia đình Đài Loan ưa chuộng do đó nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam giúp việc gia đình ngày càng. Nhưng do tỷ lệ lao động giúp việc vi phạm hợp đồng lao động (bỏ trốn khỏi gia đình gia chủ ra ngoài làm việc khác) ngày một gia tăng, cộng thêm một số lượng không nhỏ lao động chưa được đào tạo và định hướng nghề một cách chu đáo đã sang Đài Loan làm việc, nên hiệu quả công việc kém đã dẫn đến quyết định dừng tiếp nhận lao động Việt Nam sang làm nghề GVGĐ từ phía Đài Loan từ tháng 12/2004. Quyết định này đã gây rất nhiều khó khăn cho không chỉ cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động mà còn gây khó khăn cho chính sách xoá đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người phụ nữ nông thôn. Từ thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu thái độ đối với nghề GVGĐ tại Đài Loan của người lao động (nữ) Việt Nam”.
Nhằm thấy được sự chuyển biến thái độ của NLĐ đối với nghề từ giai đoạn trước khi sang Đài Loan làm việc đến giai đoạn làm việc thực tế và kết thúc hợp đồng lao động, tìm những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan gây ra sự biến chuyển trên. Từ đó, có những kiến nghị đến cơ quan thẩm quyền, để các cơ quan này có các định hướng, điều chỉnh nhằm phát huy tính tích cực của NLĐ trong quá trình hành nghề tại nước ngoài. Từ đó mà khẳng định lợi thế xuất khẩu lao động của Việt Nam. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU.
Thái độ của NLĐ (nữ) Việt Nam đối với nghề GVGĐ tại Đài Loan. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. Chỉ ra thực trạng thái độ của NLĐ(nữ) Việt Nam đối với nghề GVGĐ tại Đài Loan, phân tích các nguyên nhân dẫn đến thái độ, sự thay đổi thái độ 6 z của NLĐ đối với nghề GVGĐ tại Đài Loan qua các giai đoạn trước khi làm nghề: trong thực tế làm nghề và sau khi đã kết thúc hợp đồng lao động về nước, qua đó đề xuất một số kiến nghị để các cơ quan quản lý đặc biệt là cục quản lý lao động ngoài nước có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm phát huy những đặc điểm tâm lý tích cực của NLĐ Việt Nam trong quá trình làm việc tại nước ngoài qua đó đẩy mạnh lợi thế xuất khẩu lao động nói chung. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Để hoàn thành mục đích trên chúng tôi đề ra các nhiệm vụ cụ thể sau: - Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Sơ lược lịch sử nghiên cứu thái độ và nghề GVGĐ trên thế giới và ở Việt Nam. Làm rõ các khái niệm cơ bản và các khái niệm có liên quan sau: khái niệm thái độ, khái niệm sự thay đổi thái độ, khái niệm nghề giúp việc và lý luận về thái độ nói chung. - Điều tra thực tiễn.
Tìm hiểu thái độ của NLĐ nữ Việt Nam đối với nghề GVGĐ qua các giai đoạn: giai đoạn trước khi làm nghề, trong thực tế làm việc tại Đài Loan, sau khi làm nghề giúp việc tại Đài Loan về Việt Nam. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và sự thay đổi thái độ trên. KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. Khách thể 168 NLĐ nữ Việt Nam đã từng làm nghề GVGĐ tại Đài Loan ở một số tỉnh phía bắc như: Hải Dương, Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang… 5.
Phạm vi nghiên cứu. Luận văn chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu thái độ của NLĐ nữ đối với nghề GVGĐ tại Đài Loan như đã chỉ rõ ở phần nhiệm vụ nghiên cứu. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU. Thái độ của NLĐ nữ đối với nghề GVGĐ thay đổi rõ rệt trước khi sang Đài Loan làm việc, trong quá trình thực tế và sau khi kết thúc hợp đồng về nước theo chiều hướng tích cực do NLĐ đạt được động cơ kinh tế của mình.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tối đề ra các phương pháp cụ thể bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp thống kê toán học. 8 z PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề thái độ.
Người đầu tiên khởi xướng việc nghiên cứu thái độ chủ quan của nhân cách là A. Lagiurxki (1874-1917) qua các nghiên cứu của mình ông chia đời sống thực của con người thành hai lĩnh vực: Cái tâm lý bên trong: là cơ sở bẩm sinh của nhân cách bao gồm khí chất, tính cách và một loạt các đặc điểm tâm lý khác. Cái tâm lý bên ngoài: hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh. Như vậy, thái độ của cá nhân theo A.
Lagiurxki là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý bên trong, là phản ứng với sự tác động môi trường xung quanh. Nghiên cứu thái độ ở Liên Xô. Trong tiếng Nga, thuật ngữ thái độ mang nội hàm kép: ngoài nghĩa là thái độ, còn có nghĩa là các mối quan hệ trong tự nhiên, xã hội và tư duy.