Chương 1 PHẬT GIÁO ĐÀNG TRONG THỜI CHÚA NGUYỄN (KHOẢNG THẾ KỶ XVI-XVIII) 1. Sơ lược về Phật giáo trong các nền văn hóa Phù Nam, Champa trước thế kỷ XVI Trải dài theo bờ biển Việt Nam từ sông Gianh đến mũi Cà Mau. Trước thế kỷ XVI, khi người Việt chưa đến khai phá, vùng đất này có nhiều dân tộc sinh sống và đã tạo nên nền văn hóa riêng cho mình trước khi chịu sự thất bại trước thiên nhiên và lịch sử. Tuy vậy, những nét văn hóa Phù Nam, Champa vẫn có ảnh hưởng nhất định đối với dân tộc đến sau.
Phật giáo Phù Nam - Văn hóa Phù Nam Miền đất Nam Bộ trước kia đã được người Phù Nam tạo dựng một nền văn hóa riêng biệt ảnh hưởng của tư tưởng Bà-la-môn và tín ngưỡng bản địa. Tuy vậy, Phật giáo cũng đã có mặt ở đây. Chúng ta được biết qua cái tên Phù Nam ở những cuốn sách sử Trung Hoa. Phù Nam đích xác là ở đâu? Chưa ai trả lời được, chỉ theo sự chỉ dẫn sơ sài trong sách sử Trung Hoa mà đoán là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thôi bởi những nhà buôn Trung Quốc xưa kia có đi lại với vùng Phù Nam để buôn bán.
Một truyền thuyết được ghi lại kể về việc nước Phù Nam được thành lập giữa cuộc kết hôn giữa Hỗn Điền và Liễu Diệp và xây dựng nên vương quốc Phù Nam. Theo sử liệu cổ Trung Hoa, Phù Nam đã từng là một quốc gia thịnh vượng, bành trướng rộng và gây ảnh hưởng lớn đến các vùng xung quanh, có quan hệ buôn bán với xứ Ấn Độ, Ba Tư, Trung Quốc… Vào những năm 40 của thế kỷ này, người ta đã phát hiện những di vật ở Óc-Eo như chum mộ cổ, đồng tiền La Mã… Họ cho rằng đây xưa kia là hải cảng sầm uất của người Phù Nam để quan hệ buôn bán với nước ngoài qua con đường buôn bán biển giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Ba Tư, La Mã… 13 Khoảng từ thế kỷ II trước Công nguyên đến thế kỷ VIII, cư dân đất Nam Bộ tiếp thu văn hóa Ấn Độ giáo để lại trong lịch sử một nền văn hóa gọi là văn hóa Óc-Eo (tên một di tích nổi tiếng, nay thuộc tỉnh An Giang). Cộng đồng dân cư Óc-Eo thuộc loại hình nhân chủng Indonesiêng, nói ngôn ngữ Môn-Khmer là phổ biến Vùng văn hóa Óc Eo rộng khắp miền Tây Nam Bộ và vùng duyên hải miền Đông Nam Bộ. Về kinh tế, họ biết trồng lúa nước (giống lúa ma, lúa trời, lúa nổi, lúa hạt dài), trồng trọt và chăn nuôi, khai thác thủy sản phát triển.
Về thủ công nghiệp, người Óc-Eo đạt trình độ cao trong việc chế tạo đồ trang sức bằng vàng, đá qúy. Nghề gốm, đóng tàu thuyền đi biển phát triển. Thành tích xây dựng và kiến trúc cũng khá phát triển, các di tích còn để lại khá nhiều dấu vết về kiến trúc (cột gỗ, phế tích đền tháp, tượng thần Ấn Độ giáo Brahma, Vinus, Linga bằng đồng, đá) Về tín ngưỡng tôn giáo, người Óc-Eo để lại rõ nét tôn sùng Ấn Độ giáo và Phật giáo đại thừa. Vào những năm 40 của thế kỷ này, người ta đã phát hiện những di vật ở Óc-Eo như chum mộ cổ, đồng tiền La Mã… Họ cho rằng đây xưa kia là hải cảng sầm uất của người Phù Nam để quan hệ buôn bán với nước ngoài qua con đường buôn bán biển giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Ba Tư, La Mã… Từ nửa sau thế kỷ thứ VIII, do sự tàn phá của người Java Nam Dương, cả vùng Nam Bộ trở nên hoang phế, thời kỳ phát triển rực rỡ đã kết thúc; phần lớn dân cư Óc-Eo có thể đã trở về địa bàn xuất phát ban đầu của họ là vùng đồi, gò, cao nguyên rừng rậm, cuộc sống của họ quay trở lại truyền thống nông nghiệp bán sơn địa, nhà sàn, đàn đá.
Người Khmer đã chinh phục vương quốc Phù Nam và xác nhập vào lãnh thổ của mình. Nhưng dân Khmer không quen sông nước nên những xóm làng vùng này rất ít. Họ sống co cụm không dám khai phá những vùng xung quanh mà chỉ sống ở những vùng cao. Đến khi người Việt tràn xuống khai phá và khẩn hoang thì vùng đồng bằng 14 Nam Bộ dưới con mắt người Khmer chỉ là vùng sơn cước, rừng thiêng nước độc.
Châu Đạt Quan đã miêu tả vùng đồng bằng Sông Cửu Long khi đi xứ Chân Lạp vào năm 1296: “Bắt đầu vào Châu Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay) gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của những con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mài dài tạo thành nhiều chỗ trú sum xuê. Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa đường trong toàn cỏ đầy rẫy. Hàng trăm hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy.
Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm” [38, 8]. - Phật giáo Phù Nam Hiện nay, chưa biết được Phật giáo ở đây tồn tại như thế nào, chúng ta chỉ biết được nhờ những thư tịch cổ của người Trung Hoa và những cuộc khai quật khảo cổ của người Pháp (trước năm 1945) và người Việt (sau năm 1975) để tìm ra những chứng tích chứng tỏ Phật giáo đã tồn tại tại Vương quốc Phù Nam: - Năm Giáp Tý (484), vua Kaundinya jayavarman phán sai nhà sư Nagasena sang Trung Quốc, chứng tỏ Phật giáo đã tồn tại ở Phù Nam. Cũng trong thế kỷ này, hai vị sư gốc Phù Nam là Shanghapala và Mandrasena đã sang Trung Quốc chuyên lo dịch kinh sách Phật giáo ra tiếng Trung Hoa theo yêu cầu của vua Lương Võ Đế. Sang triều đại Rudravarman, ông đã cử nhiều phái đoàn đi sứ sang Trung Hoa.
- Dưới hai triều đại Kaundinya và Rudravarman ở Phù Nam ngành điêu khắc đã phát triển, họ đã tạc và đúc nhiều tượng Phật bằng đá, gỗ, đồng… Trung tâm của nghệ thuật này là Phrom Da trong vùng Angkor Borei. Những tượng Phật của người Phù Nam đã được tìm thấy thời gian trước 1945 là: 15 1 - Tượng Thích Ca đứng bằng gỗ mù u, tìm thấy ở xóm Mỹ Lợi, làng Phong Mỹ, quận Cao Lãnh, hạt Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp ngày nay) được đoán định là khoảng thế kỷ thứ IV - VII. 2 - Tượng Thích Ca đứng không đầu bằng gỗ mù u, tìm thấy tại Đá Nổi, xóm Thạch Đông, làng Thạch Hòa, tổng Gian Ninh, Rạch Giá (tỉnh Kiên giang ngày nay), được đoán định niên đại thế kỷ thứ V - VII. 3 - Tượng Phật bằng gỗ sao tìm thấy tại làng Bình Hòa, giữa kinh Bo Bo và sông Vàm Cỏ Đông, được đoán định vào khoảng thế kỷ thứ II -V.
4 - Tượng Phật đứng bằng gỗ mù u phát hiện tại Cái Tàu (phía Tây địa giới Sa Đéc và Mỹ Tho) được đoán định vào khoảng thế kỷ II - V. Từ năm 1975 đến nay, đặc biệt là cuộc khai quật năm 1989 ở địa bàn Gò Xoài thuộc tỉnh Long An, đã tìm thấy nhiều hiện vật Phật giáo: 4 miếng vàng lá có đấp nổi chữ Phạn cổ, hoa sen 12 cánh, rắn, voi… Ngoài ra còn rất nhiều hiện vật khác được tìm thấy rải rác ở khắp vùng đồng bằng Nam Bộ như An Giang, Long An, Tây Ninh…hoặc trong các ngôi chùa cổ như Hội Sơn (Thủ Đức), Phụng Sơn (quận 11- TP.HCM)…Chứng tỏ Phật giáo có mặt và ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của cư dân ở đây trước khi người Việt đến. Phật giáo Champa - Văn hóa Sa Huỳnh Nền văn hoá này đã mất từ lâu, chúng ta biết được chỉ nhờ ngành khảo cổ. Lần đầu tiên nền văn hoá Sa Huỳnh được phát hiện năm 1909.
Các di vật được tìm thấy được là các loại chum (vò) ở bãi cát Sa Huỳnh miền Trung. Càng ngày việc đào bới phát hiện chum mộ càng nhiều. Người ta cho rằng những chum này dùng để chôn người chết, có thể là tro, xương cốt người chết còn lại sau khi thiêu. Đồ đạc được chôn trong chum là các loại đồ gốm có trang trí gồm các vòng đeo tay, đồ trang sức, vũ khí, dụng cụ sản xuất…Chủ nhân của nền văn hoá này có thể là người Nam Đảo (Proto-Austronesian).
16 Dựa trên các di tích, người ta đoán định họ sống ở đây vào thời đại trước khi có đồ sắt, khoảng 4.000 năm trước Công nguyên. Đến thế kỷ II-I trước Công nguyên, nền văn hoá này bị mất và thay thế bởi nền văn hoá Champa. Tất nhiên khi người Chăm đến cũng chịu ảnh hưởng của nền văn hoá trước đó. Vậy giữa hai nền văn hoá Sa Huỳnh và Champa có mối liên hệ tiếp nối nhau như thế nào thì vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Văn hoá Sa huỳnh còn được có liên hệ với những mẫu vật trong hang Kalanay ở Philippin. - Văn hóa Champa Dân tộc Champa, người Chăm trước đây sống rải rác dọc theo bờ biển kéo dài từ Quảng Bình đến Đồng Nai, đã từng thành lập vương quốc riêng cho mình và đã có một nền văn hóa phát triển rực rỡ. Người Chăm cũng có gốc từ người Nam Đảo, họ đến vùng miền Trung bằng đường biển và định cư ở đây. Đến cuối thế kỷ thứ II, họ thật sự thống trị dải đất này, lập nên một vương quốc và hùng cứ một thời gian.
Người Chăm sống theo chế độ thị tộc và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Ấn Độ. Các di tích dọc miền Trung nơi mà người Chăm từng sống còn lại rất nhiều, đặc sắc nhất là hệ thống tháp Chăm. Người Chăm cũng đã có chữ viết tương đối sớm ở Đông Nam Á. Chữ viết được phát hiện trên bia Võ Cạnh, Nha Trang mang dấu ấn chữ Sankrit của Ấn Độ.
Nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Chăm đã đạt đến đỉnh cao. Tượng tháp của họ được xây dựng và chạm trổ rất công phu, đặc biệt là Thánh Đô. Đây là khu kiến trúc tôn giáo được xây dựng để thờ thần linh phò trợ các vị vua khi họ lên ngôi. Tiêu biểu nhất trong điêu khắc là vũ nữ Trà kiệu.
Người ta cho đây là bức tượng tả cái đẹp tuyệt mỹ của người con gái Chăm. Một thời huy hoàng như thế rồi dần dần các thế hệ sau mất dần khả năng sáng tạo và tinh thần dũng cảm. Họ sống co cụm, thúc thủ và chuyên gây hấn với các lân bang để nhận lấy hậu quả diệt vong, mất nước. - Phật giáo Champa 17 Trong thời huy hoàng nhất của dân tộc này, đạo Phật được xem là quốc giáo.
Có lẽ đạo Phật đến với dân tộc này đồng thời với việc tạo dựng xã hội và lập quốc của họ. Theo sử sách, Phật giáo được truyền vào Champa cùng lúc với Phật giáo truyền vào Giao Chỉ.