CHƯƠNG 1: TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VAN VA NHÂN QUYEN Tiểu dẫn: Trong khi nhân quyền là một khái niệm gan gũi va đã được thừa nhận một cách rộng rãi, thì trong lĩnh vực luật học, những vấn đề lý luận về nhân văn dường như vẫn còn xa lạ và chưa được khai thác một cách hiệu quả. Vì vậy, trong chương này, tác giả ưu tiên đề cập và giải quyết các nội dung cơ bản về nhân văn trước khi phân tích mối tương quan theo những hướng khác nhau giữa nó với nhân quyên. Những nhận thức cơ bản về nhân văn 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm nhán văn Khi nói đến nhân văn, trước hết ta cần thay được đây là một hiện tượng bao trùm lên rất nhiều mặt của đời song vật chat, tinh thần của từng cá nhân cũng như toàn xã hội. Vì vậy, muốn hiểu về nhân văn dường như rất khó có thé thâu tóm toàn bộ phương diện của nó vào trong một định nghĩa. Bản thân nhân văn cũng là cơ sở dé phái sinh ra rất nhiều khái niệm liên quan. Do đó, dé có cái nhìn phần nào hoàn chỉnh về nhân văn, việc đầu tiên chúng ta cần xem xét các định nghĩa khác nhau về nó, và sử dụng chúng theo cách bổ sung lẫn nhau dé có thể tái hiện khái niệm nhân văn như một chỉnh thẻ.
- VỀ mặt từ nguyên tiếng Việt, nhân văn là khái niệm được ghép bởi hai từ gốc Hán: "Nhân" (A) và "Van" (#). Trong đó, "nhân" được hiểu đơn giản là xn"Ì z ` ở x ` x x ON ~ z 9 ` "Người", tức là con người. Con từ "van" bao gôm nhiêu nghĩa. Tác giả Đào Duy Anh cho rằng "văn" có các nghĩa là: người có học van, văn vẻ, lễ phép, dang bề ngoài”.
Theo tác gia Huỳnh Tinh Của, "van" cũng có nghĩa là chữ nghĩa, lich sự, thanh cảnh, vẽ vời”. Còn theo từ điển Thiều Chửu, "văn" có một nghĩa là: “Cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp dé rõ rệt gọi là văn Nhu vậy, co thé thay, chữ "văn" trong từ "nhân văn" mang hàm nghĩa là cái hình thức, cái biéu hiện ra bên ngoài, trong đó ân chứa cái tốt đẹp, cái cao thượng được bồi dap từ giáo dục, chữ nghĩa, tri thức. Hay có thé khang định, văn là vẻ đẹp của hình thức bên ngoài. Như học giả Phan Kế Bính đã nhận định: “Văn la gì? Van là vẻ đẹp"Š.
Khi đặt hai từ "nhân" và "văn" cạnh nhau, "nhân văn" có ý nghĩa là vẻ đẹp biểu hiện ra bên ngoài cua con người. Các học giả xưa đã sử dụng thuật ngữ này với ý nghĩa đó, đồng thời phân biệt với "thiên văn" là vẻ đẹp hình thức cua trời (biểu hiện qua mặt trăng, mặt trời, các vì tinh tú, mây, mưa, sắm, chop.)° Nhu vậy, thông qua việc xem xét về mặt từ nguyên Hán Việt, ta có thé hiểu một cách cơ bản về ngữ nghĩa và cách dùng của khái niệm "nhân văn". - Về cách hiểu, do sự xâm nhập của văn hóa và khoa học Tây phương, cách hiểu về khái niệm nhân văn ở nước ta cũng chuyển dần theo hướng hài hòa với cách hiểu của toàn thế giới. Trong đó, khái niệm "nhân văn" ngày càng mở rộng vê nội ham và bao quát được nhiêu góc độ: ' Theo Huynh Tịnh Của, Đại Nam Quốc âm tự vị, Nxb Rey Curiol, Sài Gòn, 1896, quyền 2, trang 750.
? Theo Dao Duy Anh, Han Việt từ điền, Nxb Tiếng Dân, Huế, 1932, quyền thượng, trang 536. 3 Huỳnh Tịnh Của, Sdd, trang 1152. * Tra cứu tại http://www.org/ > Phan Kế Binh, Viét Hán văn khảo, Nxb Mặc Lâm, Hà Nội, 1938, trang 9. 6 Trong Kinh dịch, quẻ Bí có viết: Quan hồ thiên văn, dĩ sat thời biến, quan hồ nhân văn, dĩ hoá thành thiên hạ.
Nghia là: Quan sát vẻ trời, có thé biết được sự biến đối của thời tiết, quan sát vẻ người, có thé giáo hóa được thiên hạ. Như vậy, "thiên văn" ở đây được hiểu như là những vật thé trên trời và sự vận động của chúng. Nhân văn được hiểu như là những giá trị bên trong của con người, được biểu hiện ra bên ngoài thông qua hành vi, phong tục, đức tin của họ; có khả năng cảm hóa và giáo hóa người khác làm theo. + Đầu tiên là việc xem xét con người dưới góc độ văn hóa, nhân văn có thé coi là đặc trưng của loài người với tu cách là một bộ phận của tự nhiên, mang tính mẫu thức, thể hiện trong hành vi, thái độ, ứng xử, cốt cách.
Đó cũng là yếu tố làm nên giá trị bản sắc của con người khi so sánh với các giống loài khác, cũng như giữa những cộng đồng người với nhau. + Thứ hai là xem xét con người dưới góc độ đạo đức, nhân văn theo quan niệm rộng lại bao hàm cả nhân đạo, nhân tính và nhân ái. Điều này được biểu hiện qua lòng thương và tình cảm nhân ái giữa đồng loại với nhau. Nó được cụ thé hóa bởi những đức tính tốt đẹp của con người như: khoan dung, sẻ chia, kính trọng, chí công vô tu.
+ Thứ ba là xem xét con người dưới góc độ triết học, nhân văn lại bao hàm cả nhân bản, coi con người là ban thể tự nhiên-xã hội, có vị trí cao cả và đóng vai trò quyết định trong việc cải tạo, chính phục tự nhiên, vận hành xã hội tuân theo những quy luật của nó. Bên cạnh đó, khái niệm nhân văn theo quan niệm phương Tây hiện đại được hiểu theo nghĩa rất rộng, với một số định nghĩa đáng chú ý như: + “Nhân văn là những thành to nằm trong các cả nhân và nên văn hóa, nhằm đáp ứng những nhu cầu pho biến của toàn thé loài người, những vấn dé chung của tat cả cá nhân và xã hội, cũng như các mối quan hệ ràng buộc giữa tất cả chúng ta." + Bản báo cáo về Thế giới nhân văn 2015 (Humanities World report 2015) của Poul Holm, Arne Jarrick, Dominic Scott cũng đưa ra một số định nghĩa khá đặc biệt như: “Nhân văn là những gì giữ chúng ta là người” (The humanities are 7 Theo Ray Broadus Browne, Marshall William Fishwick, Rejuvenating the Humanities, Popular Press, 1992, trang 142. Nguyén van: "The humanities are those elements in the individual and culture which respond to the basic human needs in all of us, the common threads in all individuals and all societies, the ties that bind us all." 10 what keep us human). “Nhân văn là bí mật để duy trì sự nhận thức về những gì khiến loài người trở nên đặc biét" (And the humanities are the secret to maintaining an appreciation for what makes human beings special).
“Nhân văn là những diéu can thiết dé khắc phục những xu hướng được đánh giá cao là di ngược lại với sự ổn định toi thiếu của xã hội" (The humanities are essential to overcome certain trends that are highly contrary to minimal social stability)Ÿ. Nhìn chung, các khái niệm đưa ra về nhân van đều kha trừu tượng va mang dau ấn của các cách tiếp cận khác nhau. Theo tác giả, dé hiểu rõ khái niệm nhân văn chúng ta cần chú ý một số điểm sau: - Nhân văn là khái niệm luôn đi liền với chủ thể của nó là con người, với những yêu tô cơ bản nằm bên trong và thuộc về con người như nhân phẩm, nhân tính, nhân sinh, nhân quan. Tat cả những yếu tố đó được biểu lộ thông qua mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và con người với xã hội.
- Nhân văn là khái niệm chỉ sự phát triển ở một mức độ của con người, mà tại đó, những giá tri cơ bản của con người trên các mặt van hóa, đạo đức, triết học hình thành nên những nét đẹp, cao quý của con người, đồng thời đáp ứng sự phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển xã hội. Như vậy, sự đánh giá về tính nhân văn của con người phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng thời điểm mà con người tôn tại. - Nhân văn bao giờ cũng thé hiện trên hai phương diện: cá nhân và cộng đồng. Tức là một mặt nó thuộc về từng cá thể con người, một mặt nó lại thuộc về một số đông người, hay là cả loài người.
Đây là điều đã được nhân mạnh trong Š Theo Poul Holm, Arne Jarrick, Dominic Scott, Humanities world report 2015, Palgrave Macmillan, 21-11- 2014, trang 19. II định nghĩa nhân văn vừa nêu của Ray Broadus Browne và Marshall William Fishwick. - Cuối cùng, nhân văn là cái cần thiết của loài người vi nó là một trong những yếu tố định hình nên mỗi cá nhân và xã hội, giúp cho từng người và toàn thé cộng đồng có thé tồn tại trên một nén tảng luân lý bền vững. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra định nghĩa sau về nhân văn: Nhân văn là khái niệm dùng dé chỉ những yếu tổ cơ bản, cần thiết bên trong của môi cá nhân, từng cộng đồng và toàn thể loài người, được biểu lộ ra bên ngoài thành những giá trị đẹp đề, cao cả, vừa mang tính bản sắc, vừa chứa đựng tinh đồng loại, vừa khang định vai trò, vi thé của con người trong những diéu kiện và hoàn cảnh lịch sử nhất định.
Từ khái niệm trên, có một số vấn đề cần lưu ý như sau: - Khái niệm nhân văn thuộc về chủ thể của nó, tức là con người, với những cấp độ tổ chức khác nhau từ cá nhân, tập thé, giai cấp, dân tộc, cho đến toàn thé loài người. - Nhân văn luôn được biểu hiện ra bên ngoài thông qua những phương diện nhất định của con người, từ hành động, cử chỉ giản đơn của một cá nhân cho đến nh ững hệ thống phức tạp của dân tộc và nhân loại như: tín ngưỡng, phong tục, tập quán, tôn giáo, chính trị, khoa học, nghệ thuật. - Nhân văn phản ánh trình độ phát triển cao của con người, đạt đến mức "đẹp đẽ, cao cả": tức là với những mức độ phát triển thấp hơn, hay với xu thế phát triển ngược lại, con người, với những hành vi, quan niệm nhất định có thể được coi là chưa nhân văn, thậm chí là phi nhân văn, phản nhân van. 12 - Nhân văn là cái cần thiết đối với mỗi con người vì nó đáp ứng những nhu cau cần thiết dé phát triển con người.
Do đó, nhân văn chính là khát vọng hướng tới của toàn thé loài người. Khải niệm tính nhân văn Tính nhân văn là khái niệm thường xuyên được sử dụng trong cả thực tiễn lần khoa học song lại khó có thể tìm thấy một định nghĩa cụ thé và chính xác.