Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRỞ LẠI QUỐC TỊCH VIỆT NAM 1. Khái niệm quốc tịch Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý thể hiện mối quan hệ gắn bó về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và công dân; về phương diện quốc tế, quốc tịch là dấu hiệu để phân biệt công dân của nước với nhau. Đó cũng là căn cứ quan trọng để phân biệt công dân giữa các quốc gia để từ đó có thể xác định quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và ngược lại. Quốc tịch cũng là một trong những căn cứ để công dân của quốc gia đó Nhà nước có thể bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài.
Trong tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã nêu rõ: Tất cả mọi người có quyền có quốc tịch. Không một người nào bị thay đổi quốc tịch hay bị tước quốc tịch một cách độc đoán. Cũng theo Điều 15 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 có nêu: Ai cũng đều có quyền với một quốc tịch và không một ai bị từ chối quyền đổi quốc tịch và đáng bị tước quốc tịch một cách tùy tiện. Điều đó có thể thấy các quốc gia có quyền quyết định về quốc tịch của công dân nước đó.
Trong một số trường hợp, việc quyết định những vấn đề liên quan đến quốc tịch được dựa theo pháp luật quốc tế. Trong từ điển Oxford của Anh thì Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó. Còn trong từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì: Quốc tịch là một sự quy thuộc về mặt pháp lý, chính trị của một cá nhân đối với Nhà nước, nó thể hiện mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và Nhà nước. Nhà nước sẽ quy định các quyền đối với công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó kể cả ở nước ngoài.
Về phía mình thì công dân phải tuân theo các quy định pháp luật của Nhà nước và hoàn thành tất cả các nghĩa vụ đối với Nhà nước. 9 luan an Trong Luật Quốc tịch năm 2008 tại Điều 1 quy định: Quốc tịch Việt Nam là sự thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với cá nhân đồng thời làm phát sinh quyền cũng như nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước đó đối với công dân Việt Nam. Việc cá nhân có quốc tịch là cơ sở để xác định mối quan hệ pháp lý ổn định, bền vững về mặt không gian và thời gian giữa cá nhân đó với một quốc gia. Cá nhân mang quốc tịch của một quốc gia ngoài việc được sự bảo hộ của quốc gia đó còn đuợc huởng những quyền lợi của công dân khi sống trên lãnh thổ quốc gia đó Ngược lại, cá nhân mất quốc tịch mình đang có thì mối quan hệ giữa cá nhân đó với quốc gia mà mình đang mang quốc tịch sẽ chấm dứt.
Cá nhân chỉ có thể bị thay đổi hoặc mất đi quốc tịch trong những điều kiện nhất định và trong những trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia. Hầu hết pháp luật của các quốc gia và cũng như pháp luật Việt Nam đều có quy định những trường hợp cụ thể, đặc biệt mà theo đó công dân không còn được mang quốc tịch của quốc gia mình đang là công dân.Khái niệm trở lại quốc tịch Việt Nam Trở lại quốc tịch Việt Nam là việc cá nhân đã bị mất quốc tịch Việt Nam, có nguyện vọng trở lại quốc tịch Việt Nam đáp ứng đầy đủ điều kiện, thủ tục theo quy định được của pháp luật và được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định cho phép cá nhân đó trở lại quốc tịch Việt Nam. Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề quốc tịch, kể từ khi ra đời nhà nước Việt Nam đã khẳng định và bảo vệ quyền quốc tịch Việt Nam trong Hiến pháp năm 1946, đồng thời rất quan tâm soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật quy định về quốc tịch Việt Nam. Trong từng thời kỳ, các 10 luan an văn bản pháp luật quy định về quốc tịch cũng được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp với thực tế.
Cụ thể như: Luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, tiếp đó là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (thay thế Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988) và hiện tại là Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (thay thế Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998). Ngày 24/6/2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung Điều 1 – Điều 13 và bãi bỏ khoản 3 điều 26 của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 về vấn đề đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam). Luật quốc tịch Việt Nam ra đời đã đánh dấu bước phát triễn quan trọng trong lĩnh vực quốc tịch, bảo đảm quyền có quốc tịch Việt Nam cho cá nhân. Đặc biệt đã tạo thuận lợi, dễ dàng cho cá nhân trong việc giải quyết thôi quốc tịch, nhập quốc tịch, trở lại quốc tịch Việt Nam.đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhiều người liên quan đến vấn đề quốc tịch.
Đối với người đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng vì những lý do khác nhau lại có nguyện vọng được trở lại quốc quốc tịch Việt Nam, sau khi trở lại quốc tịch Việt Nam, họ được trở lại với quê hương đất nước. Qua đó, đã góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc tịch Việt Nam, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu hội nhập, toàn cầu hóa tình hình mới. Cùng với sự phát triển của xã hội thì việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật trong đó pháp luật quy định về lĩnh vực quốc tịch là một yêu cầu cần thiết. Do vậy, nhiều quốc gia luôn không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan đến quốc tịch của quốc gia mình.
Xuất phát từ lợi ích và tính chất giai cấp mà pháp luật của các quốc gia quy định về những vấn đề liên quan đến quốc tịch khác nhau. Ngoài việc ban 11 luan an hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội thì việc ban hành các quy định của pháp luật về lĩnh vực quốc tịch là sự biểu hiện cụ thể của chính quyền quốc gia đó, mang ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn cả về công tác đối nội và đối ngoại. Đối tượng xin trở lại quốc tịch Việt Nam Khi một công dân bị mất quốc tịch xảy ra nếu công dân đó rơi vào những trường hợp đã được pháp luật quy định hoặc vi phạm những quy định của pháp luật quốc gia làm ảnh hưởng xấu đến lợi ích, uy tín của quốc gia. Những quy định của pháp luật của các nước trên thế giới và cả pháp luật của Việt Nam nêu rõ những trường hợp cụ dẫn đến hệ quả pháp lý là cá nhân đó bị tước quốc tịch bằng sự cưỡng chế của nhà nước.
Cá nhân bị tước quốc tịch Việt Nam trong một số trường hợp: “1. Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.”[11] Việc cá nhân bị tước quốc tịch là biện pháp trừng phạt mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ thực khi công dân đó có những hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia, có những hành vi phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khi đó họ không còn xứng đáng là công dân nữa. Luật Quốc tịch quy định phần đối tượng có thể bị tước quốc tịch Việt Nam bao gồm cả Công dân Việt Nam cư 12 luan an trú ở nước ngoài và cá nhân đã nhập quốc tịch Việt Nam cư trú trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Sau khi bị tước quốc tịch, cá nhân đó sẽ trở thành người không quốc tịch, trừ trường hợp người đó hiện đang có hai quốc tịch. Đó là quy định về việc tước quốc tịch một công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam nhưng trước giờ vẫn chưa có tiền lệ công dân Việt Nam hay người đã nhập quốc tịch Việt Nam bị tước quốc tịch. Cụ thể đối với trường hợp ông Phạm Minh Hoàng có nhiều hành động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tuyên truyền, chống phá, chống đối Đảng, nhà nước ta nên đã bị Chủ tịch nước Trần Đại Quang ra Quyết định số 832/QĐ-CTN ký ngày 17/5/2017 về việc tước quốc tịch Việt Nam đối với ông. Điều đó khẳng định, người mang quốc tịch Việt Nam thể hiện danh dự cá nhân, lợi ích về dân sự, chính trị, sự bảo hộ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân nước mình.
Việc tước quốc tịch chỉ có thể xảy ra khi công dân đó có hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia, có những hành vi phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì nhà nước mới xem xét việc tước quốc tịch của cá nhân đó. Về trình tự thủ tục và điều kiện thực hiện việc tước quốc tịch cũng được quy định trong pháp luật quốc gia của mỗi nước và phải tôn trọng nguyên tắc trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948. Theo đó, tất cả mọi người đều có quyền có quốc tịch và không một ai bị từ chối quyền được đổi quốc tịch hoặc bị tước quốc tịch một cách vô cớ và bị từ chối quyền được đổi quốc tịch. Về việc tước quốc tịch Việt Nam, pháp luật Việt Nam quy định: Người bị tước quốc tịch Việt Nam có thể được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt 13 luan an Nam nhưng phải sau ít nhất 05 năm kể từ ngày Chủ tịch nước ký Quyết định về việc tước quốc tịch Việt Nam.