mở đầu hết sức có ý nghĩa không chỉ công cuộc đổi mới nông nghiệp, nông thôn mà cũng chính là bước chuẩn bị hết sức cơ bản cho sự nghiệp đổi mới toàn diện của Đảng và nhà nước ta ở thập kỷ cuối thế kỷ XX và thập kỷ đầu thế kỷ XXI. PAGE \* MERGEFORMAT 1 CHƯƠNG 2: KẾT CẤU KINH TẾ CỦA LÀNG XÃ KHÁI QUÁT: Làng xã Việt Nam truyền thống từ trong lịch sử có nhiều loại hình kinh tế phong phú như trồng trọt, chăn nuôi, thương nghiệp, nhưng có nét đặc trưng là không có sự tách biệt dứt khoát giữa trồng trọt, chăn nuôi, thương nghiệp như nhiều nước khác.Hầu hết các làng xã Việt Nam đều lấy hoạt động kinh tế nông nghiệp làm cơ sở, có kết hợp với các làng nghề thủ công, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chăn nuôi không tách rời với nông nghiệp trồng lúa nước ở Việt Nam trong các làng xã. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, các nghề thủ công, thương nghiệp ở các làng xã cũng ngày càng phát triển và được mở rộng hơn.
Thủ công từng bước tách khỏi nông nghiệp, xuất hiện ngày càng nhiều các làng nghề.1 Chế độ sở hữu ruộng đất 2.1 Ruộng đất công: là ruộng công làng xã, do làng xã trực tiếp quản lý và phân chia cho các thành viên của làng theo lệ làng hoặc theo quy định của nhà nước (chính sách quân điền thời Lê Sơ, thời Nguyễn). a) Nguồn gốc và diễn biến Thời Văn Lang- Âu Lạc, ruộng đất còn thuộc quyền sở hữu chung của cả cộng đồng. Mọi thành viên trong các làng xóm đều bình đẳng, không ai có quyền chiếm giữ làm của riêng. Mỗi thành viên trong làng (chạ) được phân chia một số lượng ruộng đất (theo quy định của làng) để cày cấy và hưởng thụ.
Người được chia chỉ có quyền sử dụng (chiếm hữu) mà không có quyền sở hữu. Ruộng đất vẫn là của công của làng. Trong thời kỳ bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất về cơ bản, nói chung vẫn thuộc làng xã, nhưng cũng có những chuyển biến nhất định trong một bộ phận ruộng đất nào đó, một số hình thức sở hữu ruộng đất mới xuất hiện như sở hữu tư nhân, sở hữu tối cao của chính quyền đô hộ. Sang thời kỳ đất nước độc lập tự chủ, tình hình ruộng đất có nhiều chuyển biến tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế của các làng xã.
Dưới thời Lý Trần (XI-XIV), làng xã vẫn giữ được quyền sở hữu của mình và ruộng đất công làng xã vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống của nhân dân. Hàng năm, làng xã vẫn tiến hành phân chia ruộng đất cho nông dân theo tục lệ và chịu trách nhiệm thu thuế theo diện tích đã trình lên quan trên nộp cho nhà nước. PAGE \* MERGEFORMAT 1 Nhìn chung trong thời kỳ phong kiến bộ phận ruộng đất công ngày càng giảm. Đến thế kỷ XIX, ở Nam Bộ hầu hết là ruộng đất tư.
Ở Trung Bộ như Bình Định, ruộng đất công không còn là bao khiến Tổng đốc Bình – Phú là Vũ Xuân Cẩn phải 2 lần tâu với vua Minh Mạng ban hành phép quân điền chia lại ruộng đất ở riêng Bình Định năm 1839. Ở Bắc Bộ ruộng đất công cũng thu hẹp, ở các địa phương ruộng đất tư đã nhiều hơn ruộng đất công. b) Nguyên tắc quản lý và cách phân chia Từ thế kỷ X cho đến thế kỷ XIV, làng xã nắm quyền sở hữu và phân chia đất công, nhà nước chỉ có quyền sở hữu trên danh nghĩa. Từ thế kỷ XV, nhà Lê Sơ với tay xuống can thiệp vào việc phân chia bằng chính sách “quân điền”.
c) Tính hai mặt của ruộng đất công trong làng xã Một mặt ruộng đất công làng xã có tác dụng hình thành nên truyền thống cộng đồng tương trợ giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân ta như “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”. Nhưng sự tồn tại của ruộng đất công làng xã cũng tạo nên những mặt hạn chế như làm thui chột vai trò cá nhân do bị hòa tan vào cộng đồng, làm cho con người ít sáng tạo, hình thành nên các tư tưởng cục bộ, bản vị, ngay thay đổi nên bảo thủ.2 Ruộng đất tư nhân a) Nguồn gốc: Do cá nhân khai hoang, do mua bán, thừa kế hay nhà nước ban tặng, ban thưởng. b) Phương thức khai thác: theo 2 phương thức chủ yếu: - Ruộng tự canh là ruộng đất mà chủ ruộng tự cày cấy. - Ruộng phát canh là ruộng mà chủ ruộng thuê tá điền cày cấy để bóc lột địa tô.3 Nông nghiệp Nền văn minh cổ truyền Việt Nam là nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước.
Nhưng tùy điều kiện tự nhiên và nhu cầu cuộc sống từng vùng, nghề nông thường kết hợp với nhiều nghề phụ. Dưới chế độ phong kiến, ở các làng xã Việt Nam, nông nghiệp luôn đóng vai trò là ngành kinh tế chủ đạo. Do đất đai nước ta thuận lợi cho nên việc phát PAGE \* MERGEFORMAT 1 triển nông nghiệp có nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu nên cư dân Việt Nam thời phong kiến chọn nông nghiệp làm nghề sinh sống chủ yếu. Mặt khác, do lấy Nho gia làm hệ tư tưởng thống trị nên các triều đại phong kiến Việt Nam luôn chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước lấy nông nghiệp làm nền tảng “dĩ nông vi bản”.
Các triều đại từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc, Nguyễn đều thi hành chính sách trọng nông.2 Thương nghiệp làng xã Do nhu cầu quá bức bách trong đời sống của người nông dân mà thời phong kiến các chợ làng đã tự phát hình thành. Chợ làng thường nằm ở các vị trí là ngã ba ngã tư đường giao thông, các khu vực trung tâm hành chính; còn nếu là vùng có sông thì bao giờ cũng thường gắn với bến sông. Chợ làng là nơi nông dân bán nông phẩm gồm lương thực, rau, củ, quả do họ làm ra; đồng thời người nông dân chỉ ra chợ mua thực phẩm chủ yếu là các loại cá, thịt, muối, mắm. Hệ thống chợ địa phương gồm chợ phiên - phố nhỏ và thị trấn – thị từ 2.
Làng chợ, làng cuộn 2.3 Thủ công nghiệp làng quê Do đặc điểm nghề nông nên ở nông thôn luôn tồn tại sẵn những nguyên liệu cho các nghề thủ công phát triển, do đó hầu hết các làng xã Việt Nam đều có sản xuất thủ công với tư cách là nghề phụ của nông dân lúc nông nhàn. Sản xuất thủ công do đó phần lớn mang tính chất gia đình như chăn tằm dệt lụa, làm nón, đan lát, thêu thùa. Làng nghề Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam. Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam.
Phân bố: Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng châu thổ sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định. Một số ít rải rác ở các vùng cao và châu thổ miền Trung và miền Nam Hình thành và phát triển: những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Cùng với sự phát triển của nền văn PAGE \* MERGEFORMAT 1 minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, sau phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông. Những đặc điểm sản phẩm: bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa.
Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng. Những làng nghề nổi tiếng: Dù nhiều làng nghề đã biến mất cùng với thời gian, nhưng hiện nay, các con số thống kê cho thấy ở Việt Nam còn gần 2.000 làng nghề thuộc các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá. Trong đó có các làng nghề rất nổi tiếng như: + Làng sơn mài Cát Đằng (Ý Yến, Nam Định) + Làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) + Làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) + Làng đá mỹ nghệ Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) + Làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) Ngoài ra, còn có các làng nghề truyền thống khác vẫn còn duy trì hoạt động.
PAGE \* MERGEFORMAT 1 CHƯƠNG 3: KẾT CẤU XÃ HỘI CỦA LÀNG XÃ 3.1 Các loại hình tổ chức làng xã a) Tập hợp người theo địa vực ngõ, xóm gồm 4 cách: Thứ nhất, tập hợp cư dân của làng dọc theo chân đê hoặc dọc theo bờ sông. VD: các làng ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Thứ hai, phân bố khu cư trú theo một hình khối liên tục không có khoảng cách giữa các thôn, xóm (các thôn, xóm liền nhau) hay ô bàn cờ. Thứ ba, phân bố theo hình vằn khanh (hình dạng thế đất của làng).
Thứ tư, phân bố lẻ tẻ cách biệt nhau bởi đồng ruộng và tách thành nhiều thôn xóm. b) Tập hợp theo dòng họ * Khái niệm: Những gia đình cùng một huyết thống tập hợp lại trong một cộng đồng gọi là họ. Mỗi họ thường có nhà thờ tổ tiên chung và do một tộc trưởng đứng đầu. Ngôi tộc trưởng thường thế tập và giành cho người con trai trưởng của dòng trưởng trong họ.
Làng Việt Nam là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội mà trước hết là dòng họ. Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính làng xã và họ hàng dòng máu, nhưng mối liên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất. Có thể coi cộng đồng làng trước tiên là tập hợp của những dòng họ. * Quá trình hình thành và phát triển: Từ khởi đầu cho đến nay là sự chuyển đổi và phát triển từ liên kết hộ gia đình tiến lên là liên kết họ hàng và các dòng họ với nhau.