Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Cơ sở lý thuyết của việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ 1. Ngôn ngữ thứ hai “Ngôn ngữ là gi?” Có thé nói, ngôn ngữ là một khái niệm quá đỗi gần gũi, quen thuộc đối với mỗi con người. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta đều nhận thấy ngôn ngữ là phương tiện giúp chúng ta giao tiếp và tư duy.
Theo Vũ Đức Nghiệu, “ngôn ngữ là kết quả của một quá trình sáng tạo lâu dài vào bậc nhất, có tổ chức phức tạp cũng thuộc bậc nhất và có những năng lực phục vụ cho con người vào loại diệu kỳ nhất trong tất cả những thứ cho chính con người tạo ra. Ngôn ngữ thứ nhất (first language) được gọi bằng nhiều cách khác nhau như: bản ngữ (native language), tiếng mẹ đẻ (mother language). Nhiều nhà ngôn ngữ học đã thống nhất rằng, ngôn ngữ thứ nhất là ngôn ngữ đầu tiên được con người tiếp xúc, từ khi sinh ra đến khi trưởng thành ở trong cộng đồng xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ được tiếp nhận sau ngôn ngữ thứ nhất.
Chomsky cho rằng con người có một năng lực ngôn ngữ bâm sinh, năng lực hiểu biết ngôn ngữ của con người rất tốt, người ta có thé học và biết nhiều ngoại ngữ khác nhau [30, tr. Có thé hiểu rằng, năng lực ngôn ngữ như món quà mà con người được trao tặng từ khi sinh ra. Trong quá trình sinh sống và học tập, con người có năng lực học, tiếp thu và có thể sử dụng nhiều ngoại ngữ khác nhau. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) của người học khác với quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ).
Ngôn ngữ thứ nhất được con người bắt đầu tiếp nhận khi sinh ra. Con người bắt đầu học ngôn ngữ thứ nhất khi tập nói. Tiếng mẹ đẻ sẽ được chúng ta tiếp nhận theo một cách vô thức và bản năng. Theo quan điểm của ngữ pháp học tạo sinh, trẻ em sinh ra đã có năng lực năm vững tiếng mẹ đẻ.
Đặc biệt, Chomsky cho rằng con người khi sinh ra cấu trúc ban đầu trong não bộ đã phải có những hiểu biết về ngôn ngữ nhất định [21, tr. Việc nói bang tiéng mẹ đẻ là nang lực bam sinh của con người. Chính vi thé trẻ em vẫn có khả năng nói những câu hoàn chỉnh dù chưa được học về các quy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ. Quá trình học ngôn ngữ thứ nhất mang tính chủ đích bằng cách học tập ngôn ngữ tại trường học và tham gia vào các hoạt 15 động giao tiếp hằng ngày trong đời sống xã hội.
Trong quá trình học tập và sinh sống, nhờ tiếng me đẻ, con người tìm hiểu và tiếp thu các tri thức trong cộng đồng dân tộc mình và nhân loại, đồng thời thé hiện quan điểm, ý kiến của mình về các van dé trong cuộc sống và xã hội. Kha năng sử dụng tiếng me đẻ được phát triển đồng thời với năng lực tư duy; vì thế, trình độ tiếng me đẻ cũng được được đánh giá dựa trên trình độ tư duy và khả năng của người học. Người ta phân biệt ngôn ngữ thứ hai với ngôn ngữ thứ nhất bởi trình tự tiếp nhận và học tập ngôn ngữ. Ngôn ngữ thứ hai còn gọi là ngôn ngữ đích, ngoại ngữ — đó là ngôn ngữ mà một người nào đó đang học và muốn thông qua quá trình học tập dé thụ đắc được ngôn ngữ này.
Ngôn ngữ thứ hai được chúng ta học ở trường lớp, với sự hướng dẫn, giảng dạy của giáo viên thông qua hệ thống giáo trình và các giáo cụ học tập. Đồng thời, sự tác động của ngôn ngữ thứ nhất và các yếu tô khác (hoàn cảnh gia đình và định kiến xã hội đối với ngôn ngữ thứ hai, van đề sức khỏe, tuổi tác, tâm lý, quan điểm sống động cơ học tập của bản thân, các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ học tập) cũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình học tập ngôn ngữ thứ hai. Từ những kết quả, nghiên cứu về quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai của con người, các giáo viên và người học tiếng Việt như một ngoại ngữ có cơ sở dé khám phá và tiếp cận những nội dung học tập và phương pháp giảng dạy một cách phù hợp và hiệu quả. Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Theo Eliss, thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là quá trình tiếp nhận, nắm vững một loại ngôn ngữ nao đó ngoải ngôn ngữ me đẻ một cách có ý thức hoặc vô thức trong môi trường tự nhiên hoặc có sự hướng dẫn của người dạy [9, tr.
Krashen cho rằng việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai liên quan đến quá trình thụ đắc trực tiếp và quá trình học tập gián tiếp [54, tr. “Thụ đắc” là việc tiếp xúc trực tiếp với ngoại ngữ với mục dich giao tiếp, giống như việc trẻ em học tiếng mẹ đẻ. Băng việc giao tiếp bởi ngôn ngữ chúng ta muốn học (như xem phim, đọc sách, nghe người bản xứ nói), dữ kiện ngôn ngữ sẽ được lưu giữ lại trong não bộ theo cách tiềm thức. Còn “học tập” là việc học tập có ý thức để ghi nhớ kiến thức của một ngôn ngữ như học thuộc danh sách từ vựng, câu trúc ngữ pháp, điều lưu ý khi sử dụng.
Môi trường của việc học tập gián tiếp là các lớp truyền thống. Krashen cho rằng quá trình thụ đắc ngôn ngữ quan 16 trọng hơn quá trình học tập [54, tr. Bởi nhờ quá trình thụ đắc, người học sẽ nắm vững quy tắc của một ngôn ngữ dé có thê thoải mái, tự tin, lưu loát vận dụng vào giao tiếp. Trong khi “học tập” giúp người học nắm vững quy tắc một loại ngôn ngữ nhưng việc vận dụng những quy tắc của ngôn ngữ đó lại qua tiến hành giám sát ngôn ngữ.
Học gián tiếp chỉ có hiệu quả về việc cải thiện tính chính xác bằng cách kiểm soát và sửa lỗi trước khi được diễn đạt. Theo Tran Hữu Luyén, ý thức là sự khác nhau cơ bản nhất giữa quá trình thụ đắc ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ. Hành trình của thụ đắc tiếng mẹ đẻ là hành trình tự phát, không có sự căng thắng của ý thức. Trẻ con thường không quan tâm đến nội dung và cách thức của thụ đắc, mà hoàn toàn “vô thức” khi thụ đắc tiếng mẹ đẻ.
Đến khi học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường mới có sự tham gia của ý thức; tuy nhiên, đứa trẻ đã có những hiểu biết nhất định về tiếng mẹ đẻ. Môi trường của quá trình thụ đắc ngoại ngữ là nhà trường. Đó là một hoạt động diễn ra có tô chức có ý thức. Khi học ngoại ngữ, người học luôn cảm thấy căng thăng khi ý thức được vận dụng để giải mã bài học.
Mức độ vận dụng của ý thức sẽ giảm dần theo mức độ thụ đắc của người học. Khi việc tô chức các hình thức của ngoại ngữ không cần sự tham gia của ý thức, mà ý thức chỉ có mặt ở nội dung của lời nói, quan hệ của chủ thể trong giao tiếp thì được đánh giá là nắm chắc ngoại ngữ này [54, tr. Có thé thay, Trần Hữu Luyén đã phân biệt sự khác nhau của hai quá trình thụ đắc ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ và cũng nhân mạnh vai trò và mức độ của ý thức trong tiến trình học ngoại ngữ. Từ quan điểm của Krashen và nhận định của Trần Hữu Luyến, có thé khái quát lại như sau: thụ đắc và học tập là hai hình thức của việc tiếp nhận một ngoại ngữ.
Vai trò của quá trình thụ đắc ngôn ngữ là giúp người học giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ một cách trôi chảy, tự nhiên còn học tập lại giúp người học có khả năng nắm vững các quy tắc của ngôn ngữ. Như vậy, học và thụ đắc là hai quá trình cần được hỗ trợ cho nhau dé hoàn thiện năng lực ngoại ngữ; tuy nhiên quá trình thụ đắc tự nhiên cần được chú trọng hơn để đạt mức độ sử dụng ngoại ngữ thành thạo như bản ngữ. Cơ sở của việc dạy - học tiếng Việt như một ngoại ngữ 1. Định nghĩa về việc đạy — học tiếng Việt như một ngoại ngữ Theo Nguyễn Thiện Giáp, với mục phố biến các tri thức va các kỹ năng sử dung về tiếng Việt thì dạy học tiếng Việt là một lĩnh vực nghiên cứu mang tính chất ứng dụng.
“Học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ mẹ đẻ là học những kinh nghiệm của ngôn ngữ đầu tiên, còn học tiếng Việt với tư cách ngôn ngữ thứ hai chỉ bắt đầu bởi những người đã dùng được một thứ tiếng khác, chăng hạn, trẻ em người dân tộc thiểu số học tiếng Việt và những người nước ngoài học tiếng Việt ở Việt Nam” [20, tr. Hiện nay, ngày càng nhiều người nước ngoài đến Việt Nam để sinh sống, học tập và làm việc. Tại Việt Nam, việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã và đang rất phát triển, được công nhận như một lĩnh vực khoa học độc lập của ngôn ngữ học ứng dụng. Trong quá trình dạy — học tiếng Việt cho người nước ngoài, tiếng Việt đóng vai trò như ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ.
Theo Trần Hữu Luyén, “dạy học ngoại ngữ là hoạt động tổ chức cho người học nắm vững ngoại ngữ dé giao tiếp và nhận thức” [34, tr. Vũ Văn Thi cũng cho rằng: Trong ngôn ngữ học dạy tiếng, mục đích chính của việc học ngôn ngữ là nhằm sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp hoặc bằng lời nói (ngôn bản) hoặc bằng văn bản viết. Từ những quan điểm trên của các nhà khoa học, chúng ta có thé khang định rằng: dạy — học tiếng Việt cho người nước ngoài là hoạt động tổ chức cho người nước ngoài nắm vững tri thức về tiếng Việt và có kỹ năng sử dụng tiếng Việt nhằm mục đích nhận thức và giao tiếp. Phương pháp dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Dạy học là một hoạt động đặc biệt.
Từ lý luận đến thực tiễn cho thấy, dạy — học ngoại ngữ không phải là một hoạt động diễn ra tùy hứng, tự do mà đó là một hoạt động được tổ chức một cách bài bản, phù hợp, có kế hoạch, dựa trên các cơ sở khoa học, trong đó có phương pháp dạy tiếng. Nguyễn Quang Ninh — Bùi Minh Toán: “Phương pháp day tiếng Việt là một hệ thống lý thuyết thuộc phạm trù ngôn ngữ học ứng dụng. Khi nói đến phương pháp dạy tiếng cho người nước ngoài sẽ có nhiều phương pháp giảng dạy phổ biến 18 trên thế giới được giáo viên áp dung. Mỗi phương pháp đều có những đặc thù riêng.