mở đầu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Đối với cán bộ LĐ-QL thì đánh giá là cơ sở để lựa chọn, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm đúng người, đúng việc. Đánh giá cán bộ đúng mới có thể phát huy được năng lực của từng cán bộ và cả ĐNCB. Ngược lại đánh giá không đúng sẽ dẫn đến lựa chọn nhầm những cán bộ không đủ phẩm chất, năng lực để giao việc, dẫn đến hỏng việc, hỏng người, gây tổn thất cho tổ chức, địa phương, đơn vị, thậm chí ảnh hưởng đến phạm vi cả nước.
16 z Lựa chọn cán bộ là khâu kế tiếp của hoạt động đánh giá nhằm tìm kiếm, phát hiện những cán bộ có đức, có tài, đủ phẩm chất và năng lực phù hợp để đảm nhiệm trọng trách LĐ-QL. Lựa chọn để bố trí sử dụng, đề bạt và lựa chọn để đưa vào dự nguồn quy hoạch đảm bảo nguồn cán bộ LĐ-QL kế cận. Thứ ba, xây dựng quy hoạch cán bộ: Đây là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn và xây dựng ĐNCB, đặc biệt là cán bộ LĐ-QL có đủ phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục. Thứ tư, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ: Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, các cấp ủy phải xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kể cả đào tạo lại theo chức danh.
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ LĐ-QL ở cơ sở phải phù hợp với thực tiễn, vừa nâng nao trình độ, năng lực LĐ-QL vừa bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức cho cán bộ. Khuyến khích cán bộ LĐ-QL tự học, tự nâng cao trình độ. Đồng thời thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, đề bạt, khắc phục tình trạng đắc cử, bổ nhiệm rồi mới đưa đi đào tạo, bồi dưỡng. Luân chuyển nhằm tạo điều kiện rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, có triển vọng đáp ứng nhiệm vụ LĐ-QL.
Luân chuyển giúp cán bộ LĐ-QL nhanh chóng trưởng thành một cách toàn diện. Luân chuyển còn nhằm mục đích điều chỉnh việc bố trí cán bộ phù hợp giữa các nhiệm vụ được giao với năng lực, sở trường của cán bộ. Thông qua luân chuyển cán bộ, tạo điều kiện để đánh giá, xem xét cán bộ chính xác, khách quan. Luân chuyển góp phần khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín trong hoạt động của cán bộ và công tác cán bộ.
Thứ năm, thực hiện bố trí, sử dụng và quản lý cán bộ: Bố trí, sử dụng cán bộ phải được thực hiện trên cơ sở quy hoạch cán bộ và đúng với chuyên môn nghiệp vụ đã đào tạo, kinh nghiệm thực tiễn đã tích lũy. Đề bạt cán bộ vào vị trí LĐ-QL ở cơ sở phải đảm bảo đúng người, đúng việc, đảm bảo cương vị công tác tương ứng với phẩm chất đạo đức và tài năng của cán bộ. 17 z Thứ sáu, thực hiện tốt các chính sách và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ LĐ- QL cấp cơ sở: Chính sách phải đồng bộ trên tất cả các mặt của công tác cán bộ từ đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, tuyển chọn và chính sách bảo đảm về lợi ích vật chất, tinh thần. Chính sách phù hợp sẽ tạo ra tính tích cực, hăng hái của ĐNCB LĐ-QL đương chức trong phấn đấu nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc.
Đồng thời thu hút nguồn lực cán bộ trẻ, có trình độ là nguồn cán bộ LĐ-QL kế cận. Như vậy, Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất quan điểm ở những vấn đề chung nhất về cán bộ, cán bộ LĐ- QL, cán bộ cơ sở và công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở, như: Khái niệm về cán bộ, cán bộ LĐ-QL; vai trò, vị trí của cán bộ LĐ-QL ở cơ sở; ý nghĩa của công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở. Có thể thấy, trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, rất chú ý đến ĐNCB LĐ-QL, nhất là ở cơ sở. Và trong từng thời điểm khác nhau, có những chủ trương, chính sách phù hợp để xây dựng ĐNCB LĐ- QL ở cơ sở vững mạnh: Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII), yêu cầu các toàn Đảng, toàn dân phải xây dựng được chiến lược về cán bộ đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh đến ĐNCB cơ sở.
Và trong các nghị quyết tiếp theo của các kỳ Đại hội Đảng đều coi trọng đến công tác xây dựng ĐNCN LĐ-QL ở cơ sở như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X) đã quán triệt cụ thể, rõ ràng những yêu cầu đối với công tác xây dựng ĐNCB ở cơ sở trong toàn Đảng, toàn dân. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, với những điều kiện khác nhau, yêu cầu khác nhau, công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở của Đảng được triển khai với phương thức, nội dung, mục tiêu cụ thể. Nhưng xuyên suốt yêu cầu xây dựng và bảo đảm cho cách mạng một ĐNCB vừa hồng, vừa chuyên, giỏi lý luận, thực tiễn, thạo chuyên môn. Thời kỳ đổi mới, công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở cần phải dựa trên những nền tảng thực tiễn mới với những yêu cầu, đòi hỏi mới thì mới có 18 z thể có một đội ngũ đủ số lượng, mạnh chất lượng, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH của đất nước.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác, của Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa thống nhất ở những vấn đề chung nhất, song cũng đề cập đến những vấn đề cụ thể, cấp thiết của công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL. Đó là những tiêu chuẩn đối với một người LĐ-QL. Muốn có ĐNCB LĐ-QL như vậy, các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền cần phải làm tốt những khâu cơ bản trong công tác cán bộ. Có vậy các cấp ủy, các cấp chính quyền mới xây dựng được ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG TUYÊN TRUYỀN VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐNCB LĐ-QL Ở CƠ SỞ. Vai trò của báo chí trong tuyên truyền về vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở. Trong lịch sử, các nhà kinh điển Mác - Lênin đã sớm nhận ra ý nghĩa quan trọng của việc thông tin về mọi hoạt động của mỗi tổ chức, cá nhân trong phong trào công nhân trên báo chí và sử dụng báo chí như là một công cụ đắc lực để giúp nắm thông tin về hoạt động của từng nhóm người, tập hợp người cộng sản trong xã hội. Năm 1904, trong “Thư gửi các đồng chí” về việc xuất bản tờ báo của phái đa số trong đảng, Lênin viết: Hãy viết cho chúng tôi biết về tình hình toạ đàm của các nhóm công nhân, về tính chất của các buổi toạ đàm ấy, về đề mục các buổi học, về nhu cầu của công nhân, về việc sắp xếp công tác tuyên truyền cổ động, về quan hệ trong xã hội… về những sự hiểu lầm, về nhu cầu, những kháng nghị của họ… Lần khác, Lênin lại nhấn mạnh: Vai trò của tờ báo không chỉ đóng khung ở chỗ phổ biến tư tưởng, giáo dục chính trị tư tưởng và thu hút bạn đồng minh chính trị, tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể, nhờ có tờ báo và gắn liền với tờ báo sẽ hình thành, nó không những chỉ làm công tác địa phương mà còn làm những nhân viên của nó quen việc theo dõi chăm chú những biến cố chính trị, đánh giá ý nghĩa của những biến cố ấy và ảnh hưởng của những biến cố ấy đến các tầng lớp khác nhau trong nhân dân, vạch cho Đảng cách mạng những phương pháp hợp lý để tác động đến những biến cố ấy.
Rõ ràng, 19 z theo Lênin, báo chí thực hiện cả hai chiều nhiệm vụ: Một là, chiều thuận, là công cụ để những người lãnh đạo Đảng tuyên truyền, cổ động, thuyết phục, tập hợp quần chúng nhân dân, những người công nhân lao động theo Đảng. Hai là, chiều ngược lại, là phương tiện để Đảng kịp thời nắm bắt tình của những người công nhân đó. Kế thừa nhận thức về vai trò của báo chí trong việc phán ảnh đầy đủ, mọi mặt hoạt động của đời sống nhân dân, của mỗi đảng viên từ cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Để làm tròn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa… Trong thực tế, qua phân tích chất lượng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX), Trung ương 6 (khoá X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng ĐNCB, đảng viên và các báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) của các tỉnh, thành ủy, Luận văn đưa ra kết quả đánh giá về số lượng, chất lượng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở: Về mặt mạnh: Đội ngũ cán bộ LĐ-QL trong bộ máy cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể ở cơ sở được hình thành từ nhiều nguồn, được rèn luyện trưởng thành từ thực tiễn công tác, đảm nhiệm được nhiều chức vụ chủ chốt trong bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở. Đội ngũ cán bộ LĐ-QL ở cơ sở nhìn chung có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thống nhất cao trong công tác lãnh đạo và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, sẵn sàng chống mọi biểu hiện tiêu cực trong xã hội và âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân của các thế lực thù địch.
Có năng lực cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động thực tiễn ở cơ sở. Đa số ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở có lối sống giản dị, lành mạnh, không tham ô lãng phí, có mối quan hệ tốt với nhân dân, gương mẫu trong thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tạo được niềm tin và uy tín trong nhân dân. Số cán bộ lớn tuổi trưởng thành từ thực tiễn công tác có kinh nghiệm, gương mẫu, số trẻ tuổi được đào tạo, bồi dưỡng có kiến thức chuyên môn, 20 z tiếp cận nhanh với khoa học và công nghệ, sáng tạo trong tổ chức thực hiện đạt hiệu quả.