Tổng quan luận án

Đề tài "Kinh tế, văn hóa huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trường Sơn thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Cảnh Minh và PGS.TS. Phan Ngọc Huyền, bảo vệ năm 2024 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 9229013).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí lịch sử và địa - văn hóa của huyện Lâm Thao (thời Pháp thuộc mang tên huyện Sơn Vi, sau đổi thành phủ Lâm Thao). Đây là vùng đất cổ trung tâm phát triển của tỉnh Phú Thọ, nơi hội tụ các di chỉ khảo cổ học tiêu biểu từ thời Tiền - Sơ sử (văn hóa Sơn Vi, văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Gò Mun, gắn liền với văn hóa Đông Sơn và trung tâm nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương). Sau khi thực dân Pháp hoàn thành xâm lược cuối thế kỷ XIX và thiết lập chế độ cai trị đến năm 1945, kinh tế - xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến do các yếu tố mới du nhập. Tại các đô thị lớn, sự chuyển biến diễn ra sâu sắc, nhưng ở các vùng nông thôn, đất cổ trung du như Lâm Thao, tiến trình biến đổi mang tính chất riêng biệt: vừa tiếp nhận các tác động của chính sách khai thác thuộc địa, vừa bảo tồn bền bỉ các giá trị truyền thống của nền văn minh sông Hồng. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các công trình trước đây chỉ khảo cứu nhỏ lẻ từng khía cạnh (khảo cổ học, di tích, lễ hội) hoặc đề cập chung trong phạm vi toàn tỉnh Hưng Hóa/Phú Thọ, chưa có công trình chuyên khảo nào phục dựng một cách toàn diện, hệ thống và xuyên suốt bức tranh kinh tế, văn hóa của huyện Lâm Thao giai đoạn 1891–1945.

Luận án xác định mục tiêu và 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục tiêu: Làm rõ quá trình phát triển, sự chuyển biến của kinh tế, văn hóa vùng đất Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945; trên cơ sở đó chỉ ra những nét đặc trưng về kinh tế và văn hóa của địa phương trong giai đoạn này.
  2. Nhiệm vụ 1: Khái quát quá trình hình thành, biến đổi diên cách và những yếu tố về tự nhiên, xã hội, chính trị tác động đến sự chuyển biến của huyện Lâm Thao giai đoạn 1891–1945.
  3. Nhiệm vụ 2: Phục dựng, tái hiện hoạt động kinh tế, đời sống văn hóa và phân tích sự biến đổi về kinh tế, văn hóa của huyện Lâm Thao trong thời kỳ thuộc địa.
  4. Nhiệm vụ 3: Nhận xét, đánh giá đặc điểm, nét nổi bật về kinh tế; nhận diện các đặc trưng, xu hướng bảo tồn và cách tân trong đời sống văn hóa của huyện Lâm Thao từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình kinh tế và đời sống văn hóa của huyện Lâm Thao giai đoạn 1891–1945.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1891 (thời điểm thành lập tỉnh Hưng Hóa mới, huyện Sơn Vi cũ được tách ra thành đơn vị riêng, tương ứng huyện Lâm Thao) đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 (ban hành Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 chính thức gọi là huyện Lâm Thao).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Sơn Vi (từ năm 1919 đổi tên thành phủ Lâm Thao, sau năm 1945 là huyện Lâm Thao). Luận án tập trung khảo cứu các tổng: Do Nghĩa, Sơn Dương, Xuân Lũng, Vĩnh Lại, Cao Xá (tương ứng các xã Cao Mại, Sơn Vi, Cao Xá, Tứ Xã, Vĩnh Lại, Bản Nguyên, Kinh Kệ, Hợp Hải, Sơn Dương, Xuân Lũng, Xuân Huy, Tiên Kiên, Thạch Sơn hiện nay) và một số xã chuyển giao địa giới về sau như Hy Cương, Hà Thạch, Thụy Vân, Thanh Đình, Chu Hóa.
  • Phạm vi nội dung: Khảo cứu cơ cấu ruộng đất công - tư (đối chiếu Địa bạ Gia Long 1805 và Hương ước cải lương 1930–1940); kinh tế nông nghiệp (trồng trọt cây lương thực, cây công nghiệp như sơn, trẩu, cau, cọ; chăn nuôi); thủ công nghiệp (nghề thợ sơn, dệt vải, ép dầu); thương nghiệp (chợ làng, chợ huyện, buôn bán ngoài huyện và xuất khẩu lâm nông sản); văn hóa vật chất (nhà ở, ăn, mặc, đi lại) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng dân gian, tôn giáo, kiến trúc đình đền chùa miếu, phong tục tập quán, trò diễn hội làng, nghệ thuật diễn xướng dân gian).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm luận, phân loại các công trình nghiên cứu đi trước theo hai nhóm chính:

Nhóm công trình liên quan gián tiếp

  • Nghiên cứu của học giả nước ngoài về làng xã và kinh tế nông thôn Việt Nam: P. Ory với La Commune Annamite au Tonkin (1894) nghiên cứu tổ chức nông nghiệp, phong tục làng xã Bắc Kỳ; Y. Henry với L’Economie Agricole de l’Indochine (1932) khảo sát chế độ sở hữu ruộng đất và phương thức canh tác nông nghiệp Đông Dương; P. Gourou với Les paysans du Delta Tonkinois (1936) phân tích địa lý nhân văn, đời sống nông dân và nhà cửa vùng châu thổ sông Hồng; Samuel L. Popkin với The Rational Peasant (1979) phân tích hành vi kinh tế của nông dân; James C. Scott với The Moral Economy of the Peasant (1976) luận giải tinh thần phản kháng và kinh tế đạo đức của cư dân nông thôn Đông Nam Á trong khủng hoảng kinh tế 1930.
  • Nghiên cứu của các tác giả trong nước: Giai đoạn trước 1945 có Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục, 1915), Qua Ninh và Vân Đình (Vấn đề dân cày, 1937). Sau năm 1945 có Nguyễn Hồng Phong (Xã thôn Việt Nam, 1959), Toan Ánh (Làng xóm Việt Nam, 1968), tập thể tác giả Viện Sử học (Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, 2 tập, 1977–1978), Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, 1984), Diệp Đình Hoa (Tìm hiểu làng Việt, 1990), Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam một số vấn đề kinh tế - xã hội, 1992; Làng Việt Nam đa nguyên và chặt, 2006), Vũ Ngọc Khánh (Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam, 2001). Về hương ước có Dương Kinh Quốc (1990), Bùi Xuân Đính (Hương ước và quản lý làng xã, 1998).

Nhóm công trình liên quan trực tiếp

  • Địa chí và lịch sử địa phương tỉnh Hưng Hóa, Phú Thọ: Notice sur la province de Hung Hoa (1899), Ngô Vi Liễn (Nomenclature des communes du Tonkin, 1928 / Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, 1999), Phạm Xuân Độ (Phú Thọ tỉnh địa chí, 1939), Vũ Kim Biên (Văn hiến làng xã vùng đất Tổ Hùng Vương, 1999; Lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, 1981), Ngô Quang Nam và Xuân Thiêm (Địa chí Vĩnh Phú - Văn hóa dân gian vùng đất Tổ, 1986).
  • Các công trình về vùng đất Lâm Thao: Hoàng Xuân Chinh và Nguyễn Ngọc Bích (Di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, 1978), Lịch sử Đảng bộ huyện Lâm Thao (2002), Nguyễn Trường Sơn (Luận văn Thạc sĩ Làng Phùng Nguyên từ thế kỷ XIX đến năm 2010, 2012).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình trên cung cấp cơ sở phương pháp luận và dữ liệu nền tảng, song đa phần chỉ dừng ở mức độ mô tả khái quát cấp tỉnh, khảo cứu từng làng riêng lẻ hoặc lát cắt khảo cổ học, văn hóa dân gian. Chưa có công trình nào khảo cứu một cách chuyên sâu, liên tục và hệ thống về toàn bộ cơ cấu, sự biến đổi kinh tế và đời sống văn hóa của toàn huyện Lâm Thao trong thời kỳ cận đại (1891–1945). Luận án của Nguyễn Trường Sơn lấp đầy khoảng trống này bằng việc xâu chuỗi, phục dựng diện mạo kinh tế - văn hóa địa phương trên cơ sở khai thác đa dạng các nguồn tư liệu Hán Nôm, lưu trữ tiếng Pháp và tư liệu điền dã thực địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận chỉ đạo quá trình nghiên cứu, xem xét các hiện tượng kinh tế, văn hóa trong mối liên hệ biện chứng với điều kiện tự nhiên, tổ chức xã hội và bối cảnh chính trị thuộc địa.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan quá trình vận động của kinh tế, văn hóa huyện Lâm Thao theo tiến trình thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945.
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa các sự kiện lịch sử để làm rõ bản chất, quy luật vận động, rút ra nhận xét về đặc điểm kinh tế và đặc trưng văn hóa địa phương.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và lập bảng biểu định lượng các dữ liệu về ruộng đất, diện tích - sản lượng cây trồng (cây sơn, cây tằm giống), nghề thủ công, giá cả thị trường qua các giai đoạn (báo cáo kinh tế tỉnh Phú Thọ 1931–1939).
  • Phương pháp sưu tầm và xử lý tư liệu: Sưu tra, đối chiếu chéo các tài liệu hành chính, địa chí, báo cáo của Pháp với tài liệu thành văn tiếng Việt và chữ Hán Nôm để xác thực tính chính xác của tư liệu.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh giữa các làng trong huyện Lâm Thao, so sánh Lâm Thao với các huyện khác trong tỉnh Phú Thọ và vùng đồng bằng Bắc Bộ; đối chiếu ruộng đất giữa Địa bạ 1805 với Hương ước cải lương thập niên 1930–1940.
  • Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Tiếp cận làng xã Lâm Thao như một hệ thống chỉnh thể với các mối liên kết cấu trúc về hành chính, dòng họ, giáp, kinh tế và tín ngưỡng.
  • Phương pháp điền dã, phỏng vấn nhân chứng lịch sử (tư liệu hồi cố): Tiến hành khảo sát thực địa tại các di tích, làng nghề (Phùng Nguyên, Kinh Kệ, Hữu Bổ, Tứ Xã, Hùng Sơn, Sơn Vi, Xuân Lũng, Xuân Huy, Tiên Kiên); ghi âm, ghi hình phỏng vấn các cụ cao niên trên 90 tuổi từng sống trước năm 1945 (cụ Nguyễn Thị Viêm sinh 1917, cụ Nguyễn Thị Tình sinh 1927, cụ Nguyễn Thị Nhung sinh 1927, cụ Nguyễn Văn Trù sinh 1930 tại Phùng Nguyên) để bổ khuyết cho các nguồn tư liệu văn bản còn thiếu vắng.

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án

Nhóm nguồn tư liệu Văn bản / Hiện vật tiêu biểu Giá trị khai thác trong luận án
Thư tịch cổ & Địa phương chí Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đồng Khánh địa dư chí, Hưng Hóa kí lược (1856), Phú Thọ tỉnh địa dư (1893). Xác định diên cách hành chính, cương vực, vị trí địa lý và các ghi chép lịch sử truyền thống thời phong kiến.
Hồ sơ lưu trữ thời Pháp thuộc (Phông RST) Báo cáo kinh tế tỉnh Phú Thọ các năm 1931 (RST-74387), 1935 (RST-74389), 1936 (RST-74390), 1937 (RST-74392), 1938 (RST-74393), 1939 (RST-74394); Báo cáo Guariaud (1932, RST-54769). Cung cấp số liệu chính xác về nông nghiệp, công nghiệp, lâm sản (sơn, trẩu, chè), giá cả thị trường và chính sách bóc lột của Pháp.
Tư liệu Hán Nôm tại Viện Hán Nôm - Địa bạ Gia Long năm 1805 (tổng Sơn Dương [AG.A11/25], Xuân Lũng [AG.A11/27], Do Nghĩa [AG.A11/21], Chu Hóa [AG.A11/20], Vĩnh Lại [AG.A11/26]).
- Tục lệ làng EFEO 1918–1919 (mã AF.A12).
- Thần tích, Thần sắc EFEO 1938.
- Lâm Thao phủ xã chí (AJ.11/3 năm 1942: 180 trang; AJ.11/2 năm 1943: 118 trang).
Cung cấp thông tin chi tiết về cơ cấu sở hữu ruộng đất, quy chế làng xã, bầu bán ngôi thứ, cơ cấu giáp, kiến trúc đền chùa và tín ngưỡng thành hoàng.
Hương ước cải lương Bản Hương ước các làng thuộc tổng Do Nghĩa, Vĩnh Lại, Sơn Dương, Chu Hóa, Xuân Lũng, Cao Xá (soạn thảo 1929–1932, sao in 1942). Phản ánh tổ chức Hội đồng tộc biểu, tài chính làng, quy định tiền cheo, xử phạt, đê điều, bảo vệ mùa màng.
Bia ký, minh văn, chuông khánh cổ Bia chùa Thiên Quang (1573, 1917), Bia đền Thượng Đền Hùng (1914, 1940), Bia chùa Vĩnh Ninh (1927), Chuông chùa Kim Cương (1707), Chuông chùa An Phúc (1836), Khánh chùa Kim Cương (1800), Mộc bản đền Nguyễn Đình Tướng (1867)... Khảo chứng niên đại xây dựng, tu sửa di tích, người cúng tiến ruộng đất và đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và nguồn tư liệu nghiên cứu đề tài

Chương này dành để tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai cấp độ: nghiên cứu gián tiếp về làng xã Việt Nam truyền thống và nghiên cứu trực tiếp về địa bàn tỉnh Hưng Hóa, Phú Thọ và huyện Lâm Thao. Tác giả chỉ rõ thành tựu của các học giả đi trước về phương pháp tiếp cận làng xã, đồng thời xác định rõ những giới hạn của các công trình này: đa số các tài liệu về Lâm Thao trước đây mới chỉ dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ về khảo cổ, di tích hoặc các bản thống kê rời rạc. Chương 1 cũng trình bày tường tận về 6 nhóm nguồn tư liệu (thư tịch cổ, địa chí, báo cáo lưu trữ thời Pháp, địa bạ - hương ước - tục lệ Hán Nôm, văn bia - minh văn, tư liệu điền dã và phỏng vấn hồi cố), đánh giá ưu thế và hạn chế của từng nguồn tư liệu, khẳng định tính khả thi trong việc tái hiện lịch sử kinh tế - văn hóa Lâm Thao giai đoạn 1891–1945.

Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945

Chương 2 phân tích các yếu tố tiền đề về tự nhiên, tổ chức hành chính - xã hội và chính sách cai trị của chính quyền thực dân:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Lâm Thao nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, địa hình chuyển tiếp thoai thoải từ đồi gò thấp phía Tây Bắc xuống đồng bằng màu mỡ ven sông Thao phía Đông Nam. Hệ thống sông Thao quanh co bồi đắp các bãi bồi, bãi nổi trù phú (như làng Sơn Lưu chỉ canh tác trên đất bãi nổi) và cung cấp đường thủy huyết mạch nối Việt Trì - Phú Thọ - Yên Bái; hệ thống đầm hồ tự nhiên (đầm Do Nghĩa, ao Âu, ao Gáp) hỗ trợ tưới tiêu và thủy sản. Khí hậu nhiệt đới gió mùa mưa nhiều vào mùa hè (tháng 7: 325mm, tháng 8: 350mm) thuận lợi cho canh tác nông nghiệp đa dạng.
  • Diên cách và dân cư: Trải qua nhiều lần điều chỉnh hành chính (năm 1891 lập tỉnh Hưng Hóa mới; năm 1903 đổi thành tỉnh Phú Thọ; năm 1919 đổi tên huyện Sơn Vi thành phủ Lâm Thao; năm 1945 đổi thành huyện Lâm Thao gồm 7 tổng, 55 làng, 1 phố). Dân cư Lâm Thao thuần túy là người Việt (chiếm tỷ trọng áp đảo trong 9/10 dân số toàn tỉnh), mật độ dân số cao vượt trội (150–500 người/km² so với mức trung bình 80 người/km² của toàn tỉnh Phú Thọ); năm 1939 toàn phủ có 11.520 suất đinh.
Diên cách hành chính huyện Lâm Thao (1891 - 1945):
  1891: Huyện Sơn Vi (thuộc tỉnh Hưng Hóa mới thành lập)
   ↓
  1903: Huyện Sơn Vi (thuộc tỉnh Phú Thọ mới đổi tên)
   ↓
  1919: Phủ Lâm Thao (đổi tên từ huyện Sơn Vi)
   ↓
  1945: Huyện Lâm Thao (theo Sắc lệnh 63/SL ngày 22/11/1945)
  • Cơ cấu tổ chức làng xã: Làng xã Lâm Thao vận hành theo bộ máy tự quản chặt chẽ của Hội đồng kỳ mục (đứng đầu là Tiên chỉ, Thứ chỉ nắm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp làng xã) và lý dịch (Lý trưởng, Phó lý, tuần phiên); tồn tại tập tục mua bán ngôi thứ (ngôi tư văn, cựu xã, ngôi hậu). Thiết chế xã hội phân tầng theo xóm ngõ (bao quanh bởi lũy tre và cổng làng phòng thủ), tổ chức giáp (dành riêng cho nam giới, làm lễ vọng giáp từ khi sơ sinh, quản lý ruộng chấp ba), tổ chức dòng họ (từ đường, trưởng họ, tục các dòng họ ngụ cư đổi sang họ gốc như ở Phùng Nguyên) và sự phân biệt đẳng cấp giữa dân nội tịch với dân ngụ cư (hạ nhân/mõ).
  • Chính sách cai trị của thực dân Pháp: Thực dân Pháp thực hiện 3 lần cải cách hương chính (Nghị định 1921 lập Hội đồng tộc biểu; Nghị định 1927; Đạo dụ 31 năm 1941 khôi phục Hội đồng kỳ mục); thiết lập hệ thống tòa án (Tòa án Tây, Tòa án Pháp Nam, Tòa Nam án); tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát (đồn binh Lê dương, lính khố xanh, lính cơ, xưởng đạn Cartoucherie Phú Thọ 1939, Sở Mật thám và nhà tù). Về kinh tế, Pháp độc quyền thu mua lâm nông sản xuất khẩu (hàng năm thu mua gần 1.000 tấn sơn, 900 tấn chè trong toàn tỉnh Phú Thọ bán sang Nhật Bản, Trung Quốc); áp đặt chế độ thuế khóa, phu phen nặng nề; do ruộng đất Lâm Thao manh mún nên Pháp không lập đồn điền lớn mà để địa chủ phong kiến phát canh thu tô.

Chương 3: Kinh tế huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945

Chương 3 tái hiện chi tiết các ngành kinh tế của huyện Lâm Thao trong thời kỳ thuộc địa:

  • Tình hình ruộng đất: Phân tích cơ cấu ruộng đất công và ruộng tư. Ruộng đất công duy trì dưới dạng ruộng đấu thầu, ruộng thờ tự, ruộng chấp ba của giáp họ; đối chiếu số liệu Địa bạ Gia Long năm 1805 với Hương ước cải lương giai đoạn 1930–1940 chỉ ra xu hướng suy giảm diện tích công điền do sự lấn chiếm, tư hữu hóa của địa chủ cường hào (Bảng 3.1).
  • Kinh tế nông nghiệp: Trồng trọt cây lương thực (lúa nước hai vụ, hoa màu trên đất bãi ven sông Thao); phát triển mạnh cây công nghiệp và cây ăn quả có giá trị thương phẩm cao như cây sơn (vùng Tiên Kiên, phục vụ xuất khẩu), cây trẩu (lấy hạt ép dầu), cọ, cau, dâu tằm. Chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo và nuôi tằm giống (thống kê sản lượng tằm giống giai đoạn 1930–1939 qua Bảng 3.3).
  • Thủ công nghiệp: Phát triển các nghề thủ công truyền thống gắn với nguồn nguyên liệu tại chỗ gồm nghề thợ sơn (khai thác và chế biến nhựa sơn), dệt vải sợi, kéo tơ tằm, nghề ép dầu trẩu, rèn đúc, đan lát (thống kê nghề thủ công tại các làng năm 1942–1943 qua Bảng 3.4).
  • Thương nghiệp và mạng lưới chợ: Mạng lưới chợ làng, chợ huyện phát triển dày đặc tạo nên mối liên kết buôn bán nội huyện (chợ họp theo phiên). Hoạt động ngoại thương và liên kết vùng diễn ra sôi động qua tuyến đường sông Thao và đường sắt: thương lái Hoa kiều, Nhật Bản trực tiếp đến chợ Tiên Kiên để thu mua sơn đưa ra nước ngoài; hệ thống thương chính và hãng buôn của Pháp chi phối giá cả các mặt hàng thiết yếu (lương thực, dầu hỏa, muối, sơn) phản ánh qua chuỗi số liệu giá cả từ năm 1899 đến năm 1939 (Bảng 3.5 và 3.6).

Chương 4: Văn hóa huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945

Chương 4 khảo cứu toàn diện đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Lâm Thao:

  • Văn hóa vật chất: Khảo tả kiểu thức nhà ở truyền thống (nhà gỗ, tre, vách đất, mái cọ hoặc mái rạ), tập quán ăn uống (gắn với lúa nước, rau củ, thủy sản sông đầm), trang phục (áo cánh, quần nâu, nhuộm răng đen, ăn trầu, hút thuốc lào) và phương tiện đi lại (chủ yếu là đi bộ, gánh gồng, thuyền bè vận tải trên sông Thao).
  • Tín ngưỡng, tôn giáo: Tín ngưỡng phồn thực (thể hiện rõ ở hội Trò Trám xã Tứ Xã); tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; hệ thống tín ngưỡng thờ Thần, Thành hoàng làng tôn vinh các nhân vật lịch sử thời Hùng Vương (Đại Hải Long Vương, Cao Sơn, Quý Minh Đô thống) và các danh nhân, tiến sĩ (Nguyễn Phục, Nguyễn Đình Tướng, Trạng nguyên Vũ Duệ); tín ngưỡng thờ Vua Hùng tại Khu di tích Đền Hùng (xã Hy Cương). Về tôn giáo, Phật giáo phát triển sâu rộng với hệ thống chùa làng cổ kính; Thiên Chúa giáo phát triển tại một số giáo xứ, họ đạo (như xứ Xuân Huy, họ Tiên Kiên).
  • Nghệ thuật kiến trúc cổ: Khảo sát các công trình đình, đền, chùa, miếu có giá trị kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu (chùa Thiên Quang, đền Thượng - Đền Hùng, chùa Vĩnh Ninh, chùa Kim Cương, chùa An Phúc, chùa Phổ Quang, chùa Phúc Ân); thống kê kiến trúc và tượng tự khí tại các đền, miếu năm 1942–1943 (Bảng 4.1 và 4.2).
  • Phong tục tập quán và trò diễn hội làng: Tục lệ tang ma, cưới hỏi với các quy định khắt khe về nộp tiền cheo cho làng theo hương ước (Bảng 4.3). Hệ thống trò diễn hội làng phong phú mang đậm tinh thần thượng võ và phản ánh chu kỳ nông nghiệp: hội vật, hội đánh quân, hội phết (Hiền Quan), hội cầu giỏ, hội chạy dịch, hội chọi trâu, hội bắt lợn, lễ hội rước Vua Ông - Vua Bà (làng Phùng Nguyên), lễ hội rước Chúa gái (Hùng Sơn).
  • Nghệ thuật trình diễn dân gian: Trình diễn các làn điệu dân ca, dân vũ truyền thống: hát xoan, hát ví, hát trống quân, trò bách dân chi nghiệp, múa đầu rối, múa rồng rắn.

Chương 5: Nhận xét về kinh tế và văn hóa huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945

Chương 5 đúc kết, khái quát các đặc điểm và quy luật chuyển biến:

  • Đặc điểm đời sống kinh tế: Nông nghiệp lúa nước kết hợp kinh tế đồi bãi đóng vai trò nền tảng. Cơ cấu ruộng đất bị chi phối bởi quá trình phân hóa tư hữu sâu sắc, đất công thu hẹp. Lâm Thao có thế mạnh nổi bật về cây công nghiệp (cây sơn) và cây lấy dầu (cây trẩu), hình thành vùng chuyên canh hàng hóa đặc thù cung ứng cho thị trường xuất khẩu. Mạng lưới chợ phát triển thành các điểm hội tụ trung chuyển thương mại giữa trung du miền núi và đồng bằng. Quá trình biến đổi kinh tế diễn ra chậm chạp, phương thức canh tác truyền thống vẫn duy trì, không hình thành các đồn điền tư bản kiểu mới của người Pháp do mật độ dân số quá đông và đất đai manh mún.
  • Đặc trưng đời sống văn hóa: Đời sống văn hóa Lâm Thao mang đậm dấu ấn văn hóa cội nguồn Đất Tổ, biểu hiện qua sự bảo lưu đậm nét các lớp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, tín ngưỡng phồn thực và diễn xướng dân gian sông Hồng. Trong bối cảnh thuộc địa, văn hóa địa phương thể hiện rõ tính hai mặt: vừa có sự "bảo tồn" mạnh mẽ các giá trị truyền thống để chống lại sự đồng hóa, vừa có sự "cách tân" tiếp nhận những yếu tố mới về văn hóa vật chất, y tế, giáo dục và tổ chức quản lý làng xã theo hương ước cải lương.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử và thực tiễn như sau:

  1. Về khoa học lịch sử: Là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên về lịch sử kinh tế và văn hóa của huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) xuyên suốt tiến trình lịch sử từ cuối thế kỷ XIX (1891) đến năm 1945. Luận án làm rõ quá trình biến đổi diên cách hành chính, cấu trúc tự nhiên - xã hội và tác động của chính sách cai trị thuộc địa đối với một địa bàn trung du đất cổ.
  2. Về nguồn tư liệu: Khai thác và công bố nhiều nguồn sử liệu gốc có giá trị cao, bao gồm các phông tài liệu lưu trữ tiếng Pháp (Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ RST), các bộ địa bạ Gia Long 1805, các bản điều tra Lâm Thao phủ xã chí (1942, 1943), hương ước cải lương, tục lệ làng xã, thần tích, thần sắc, bia ký, minh văn Hán Nôm và hệ thống tư liệu phỏng vấn hồi cố các nhân chứng lịch sử sinh trước năm 1945.
  3. Về thực tiễn ứng dụng: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử - văn hóa địa phương tỉnh Phú Thọ tại các trường phổ thông, trường đại học; phục vụ công tác quy hoạch, quản lý, bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch tại huyện Lâm Thao và Khu di tích lịch sử Đền Hùng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên những phân tích từ nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản:

  • Hạn chế: Do tính chất tản mát và không đồng đều của nguồn tư liệu lịch sử lưu trữ thời Pháp thuộc, một số phông lưu trữ về huyện Lâm Thao ghi chép rất ít hoặc gián đoạn. Các bản Lâm Thao phủ xã chí chỉ ghi chép ở một số tổng (Xuân Lũng, Do Nghĩa) vào đầu những năm 1940; số liệu địa bạ Gia Long 1805 chỉ lưu giữ ở một số tổng nhất định, do đó sự đối chiếu định lượng xuyên suốt toàn bộ các làng xã trong huyện qua từng năm chưa thể đạt độ đồng đều tuyệt đối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát, sưu tầm thêm các nguồn tư liệu địa bạ, hương ước của các tổng/xã còn thiếu; tiếp tục theo dõi tiến trình biến đổi kinh tế - văn hóa của huyện Lâm Thao ở các giai đoạn lịch sử tiếp theo sau năm 1945; so sánh đối chiếu sâu hơn mô hình kinh tế - văn hóa Lâm Thao với các huyện trung du khác ở Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Dân tộc học: Cung cấp phương pháp tiếp cận nghiên cứu lịch sử địa phương kết hợp đa nguồn tư liệu (sử liệu thành văn, lưu trữ thuộc địa, Hán Nôm và điền dã hồi cố). Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và cơ cấu tổ chức làng xã (Chương 2) là tư liệu tham chiếu giá trị cho các nghiên cứu về làng xã Bắc Bộ thời thuộc địa.
  • Cơ quan quản lý văn hóa, bảo tàng và ngành du lịch tỉnh Phú Thọ: Cung cấp dữ liệu lịch sử xác thực về hệ thống di tích đền, chùa, đình, miếu, lễ hội và trò diễn dân gian phục vụ công tác bảo tồn di sản và xây dựng các tour du lịch văn hóa vùng Đất Tổ.
  • Nhà giáo dục địa phương: Phục vụ biên soạn giáo trình, tài liệu giáo dục lịch sử - văn hóa địa phương cho các trường phổ thông và trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao không gian nghiên cứu của huyện Lâm Thao giai đoạn 1891–1945 lại tương ứng với huyện Sơn Vi?
Trả lời: Theo các văn bản hành chính thời Nguyễn và Pháp thuộc, năm 1891 khi thành lập tỉnh Hưng Hóa mới, huyện Sơn Vi cũ được tách ra thành huyện riêng. Đến năm 1919, chính quyền thực dân bỏ tên huyện Sơn Vi và đổi tên thành phủ Lâm Thao (chỉ còn các tổng, xã tương đương huyện Sơn Vi cũ). Sau Cách mạng tháng Tám, theo Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 của Chính phủ, phủ Lâm Thao chính thức đổi tên thành huyện Lâm Thao. Do đó, không gian nghiên cứu của huyện Lâm Thao từ 1891 đến 1945 hoàn toàn tương ứng với địa bàn huyện Sơn Vi cũ.

2. Điểm đặc thù về mật độ dân số và phân bố dân cư ở huyện Lâm Thao thời Pháp thuộc là gì?
Trả lời: Lâm Thao thuộc khu vực đồng bằng ven sông Thao, có mật độ dân cư cao nhất tỉnh Phú Thọ (đạt từ 150 đến 500 người/km², trong khi mật độ bình quân toàn tỉnh chỉ là 80 người/km² và các huyện miền núi chỉ đạt dưới 30 người/km²). Dân cư phân bố không đều: phía Bắc nhiều đồi gò dân cư thưa hơn, càng xuôi về phía Nam ven sông phù sa màu mỡ dân cư tập trung càng đông đúc.

3. Tại sao thực dân Pháp không thành lập các đồn điền nông nghiệp quy mô lớn tại huyện Lâm Thao?
Trả lời: Do huyện Lâm Thao có mật độ dân số rất đông đúc, đất đai canh tác từ lâu đời đã bị chia nhỏ, manh mún giữa các làng xã và hộ nông dân. Vì vậy, thực dân Pháp không thể chiếm đoạt diện tích đất liền khoảnh lớn để lập đồn điền như ở các vùng trung du, miền núi thưa dân, mà chủ yếu duy trì phương thức để địa chủ bóc lột nông dân qua phát canh thu tô, kết hợp độc quyền thu mua nông lâm sản thương phẩm (nhựa sơn, trẩu, chè) và thu sưu thuế.

4. Cây công nghiệp nào của huyện Lâm Thao có vai trò xuất khẩu quan trọng nhất thời Pháp thuộc và thị trường tiêu thụ ở đâu?
Trả lời: Cây sơn (trồng tập trung quanh khu vực Tiên Kiên) là cây công nghiệp quan trọng nhất. Nhựa sơn được thương lái thu mua tại chợ Tiên Kiên để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và Trung Quốc. Hàng năm, toàn tỉnh Phú Thọ (trong đó Lâm Thao là trung tâm sản xuất và buôn bán lớn) cung ứng gần 1.000 tấn sơn cho các hãng buôn xuất khẩu.

5. Luận án đã khai thác nguồn tư liệu hồi cố như thế nào để phục dựng đời sống sinh hoạt trước năm 1945?
Trả lời: Tác giả đã tiến hành ghi âm, ghi hình và phỏng vấn trực tiếp 4 cụ cao niên trên 90 tuổi sinh sống trước năm 1945 tại làng Phùng Nguyên gồm: cụ Nguyễn Thị Viêm (sinh 1917), cụ Nguyễn Thị Tình (sinh 1927), cụ Nguyễn Thị Nhung (sinh 1927) và cụ Nguyễn Văn Trù (sinh 1930). Các thông tin phỏng vấn tập trung vào đời sống ăn, mặc, ở, phong tục cưới hỏi, tang ma, đi lại, họp chợ và làn điệu hát trống quân dân gian.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trường Sơn là công trình nghiên cứu chuyên khảo về lịch sử kinh tế và văn hóa huyện Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1891–1945. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, logic với việc khai thác tư liệu lưu trữ Pháp, văn bản Hán Nôm và điền dã hồi cố, công trình đã tái hiện diện mạo kinh tế nông nghiệp - thủ công nghiệp - thương nghiệp và các sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc trưng của vùng đất cổ trung du sông Hồng. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật vận động đan xen giữa bảo tồn các giá trị truyền thống cội nguồn Đất Tổ và sự thích ứng, chuyển biến trước tác động của chính sách khai thác thuộc địa. Luận án đóng góp nguồn dữ liệu lịch sử cho công tác nghiên cứu, giáo dục lịch sử địa phương và bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Phú Thọ.