Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học với đề tài "Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Vân Hà thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Công trình tập trung phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa tôn giáo và pháp quyền trong bối cảnh công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến năm 2013.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngay từ phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nguyên tắc "Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" đã được xác lập và trở thành đường lối nhất quán xuyên suốt. Bước vào thời kỳ Đổi mới từ năm 1986, nhận thức của Đảng và Nhà nước về tôn giáo đã có những bước chuyển mang tính bước ngoặt, tiêu biểu là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị với ba luận điểm cốt lõi:

  1. Tôn giáo còn tồn tại lâu dài;
  2. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân;
  3. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.

Song hành với sự chuyển dịch từ quản lý bằng nghị quyết, chỉ thị sang quản lý xã hội bằng pháp luật trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Tuy nhiên, trước sự vận động phức tạp của đời sống tôn giáo đương đại và yêu cầu hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật tôn giáo tại Việt Nam đã bộc lộ nhiều khoảng trống và bất cập:

  • Vấn đề xác lập tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo trong quan hệ pháp luật dân sự chưa được quy định đồng bộ;
  • Quyền sở hữu, quản lý tài sản và đất đai có nguồn gốc tôn giáo qua các thời kỳ lịch sử còn nhiều vướng mắc chưa có lời giải thỏa đáng;
  • Hoạt động truyền giáo, sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam, sự tham gia của các tổ chức tôn giáo vào các lĩnh vực xã hội hóa (y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo) và các chế tài xử lý vi phạm pháp luật tôn giáo chưa được điều chỉnh đầy đủ, kịp thời;
  • Nguy cơ các vấn đề tôn giáo bị các thế lực bên ngoài lợi dụng can thiệp vào công việc nội bộ và an ninh quốc gia.

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách tôn giáo, song các công trình tiếp cận chuyên sâu, hệ thống dưới góc độ luật pháp về tôn giáo gắn liền với lộ trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và đối chiếu với chuẩn mực quốc tế vẫn còn mỏng.

Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu mối quan hệ giữa tôn giáo và luật pháp, tiến trình xây dựng luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, trên cơ sở đó nêu lên những vấn đề cần tiếp tục giải quyết để hoàn thiện hệ thống pháp luật này, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản luận án):
    1. Thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam; tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng luật pháp về tôn giáo ở một số quốc gia, từ đó có cái nhìn tham chiếu về tình hình xây dựng luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam.
    2. Thứ hai: Nghiên cứu tiến trình xây dựng, hoàn thiện luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam; nêu lên những thành tựu và hạn chế của công tác xây dựng và hoàn thiện luật pháp về tôn giáo ở nước ta hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó.
    3. Thứ ba: Nêu lên những vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong quá trình hoàn thiện luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra một số đề xuất và khuyến nghị.
  • Giả thuyết nghiên cứu: Đảm bảo và tạo điều kiện cho đời sống tôn giáo ở Việt Nam phát triển một cách bình thường; thực hiện quản lý các hoạt động tôn giáo bằng con đường hoàn thiện hệ thống luật pháp về tôn giáo theo hướng hội nhập quốc tế; xây dựng nhà nước pháp quyền, tạo lập xã hội hài hòa tôn giáo là một trong những nguồn lực quan trọng để Việt Nam phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề tôn giáo, chính sách, luật pháp liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, kết hợp khảo cứu, so sánh kinh nghiệm xây dựng pháp luật tôn giáo tại một số quốc gia (Pháp, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung từ khi ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị (tháng 10/1990) đến thời điểm Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2013.
  • Phạm vi thực thể khảo sát: Tập trung chủ yếu vào các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước Việt Nam công nhận tư cách pháp nhân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại, hệ thống hóa khối lượng tư liệu học thuật liên quan theo các nhóm hướng nghiên cứu chính:

  1. Nhóm công trình lý luận nền tảng và đường lối, chính sách chung:

    • Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia), cung cấp khung lý luận, phân biệt tín ngưỡng - tôn giáo và phác họa chính sách tôn giáo cuối thế kỷ XX.
    • Các bộ tư liệu Mác - Lênin về tôn giáo: Nguyễn Đức Sự chủ biên (2000), C.Ăng ghen về vấn đề tôn giáo (Nxb KHXH); C.Ănghen, Lênin về tôn giáo (Nxb Tôn giáo, 2001); C.Ănghen, Lênin bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần (Trần Khang - Lê Cự Lộc dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001).
    • Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh: Viện Nghiên cứu Tôn giáo (1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng; Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo; Nguyễn Đức Lữ chủ biên (2009); Đỗ Quang Hưng (1999), Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh.
  2. Nhóm công trình về quan hệ Nhà nước - Giáo hội và thực tiễn chính sách tôn giáo thời kỳ Đổi mới:

    • Đỗ Quang Hưng chủ biên (2003), Nhà nước và Giáo hội (Nxb Tôn giáo), phân tích mối quan hệ cốt lõi giữa chính quyền và các tổ chức giáo hội.
    • Viện Nghiên cứu Tôn giáo (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn (Nxb Chính trị Quốc gia), tổng kết 55 năm chính sách tôn giáo (1945-2000).
    • Nguyễn Đức Lữ (2007, tái bản 2011), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam; và (2009), Tôn giáo - Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, mở rộng phân tích về quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
    • Nguyễn Hồng Dương (2012), Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; và Đề tài cấp Bộ (2013) về cơ sở khoa học đổi mới chính sách tôn giáo giai đoạn 2011-2020.
    • Ngô Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo - Từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn Việt Nam.
    • Đỗ Quang Hưng (2013), Đề tài trọng điểm ĐHQGHN: Chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay - Lý luận và thực tiễn.
    • Các công trình chuyên khảo bổ trợ của Nguyễn Thanh Xuân (2007), Nguyễn Mạnh Cường (2010), Nguyễn Văn Dũng (2012).
  3. Nhóm diễn đàn hội thảo khoa học và bài báo chuyên ngành:

    • Chuỗi hội thảo quốc tế "Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á" các năm 2006, 2007, 2011, thảo luận về mô hình quan hệ nhà nước - giáo hội, pháp nhân tôn giáo, an ninh và tài chính tôn giáo.
    • Các hội thảo trong nước tại Đà Nẵng (2011), TP. Hồ Chí Minh (2011), Hà Nội (2013).
    • Các bài nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo và Tạp chí Công tác Tôn giáo của Đỗ Quang Hưng (2007, 2008), Nguyễn Quốc Tuấn (2013), Nguyễn Thanh Xuân (2012), Nguyễn Thị Vân Hà (2013).
    • Các luận văn, luận án nghiên cứu pháp luật tôn giáo: Nguyễn Xuân Diện (2003), Đỗ Thị Kim Định (2007), Trần Minh Thư (2004).
  4. Nhóm nghiên cứu học giả quốc tế và luật pháp so sánh:

    • Philip Taylor (2007), Modernity and Re-enchantment in Post-revolutionary Viet Nam; Mark Sidel về khu vực phi lợi nhuận; Joseph Hannah (2007) về các tổ chức phi chính phủ và quan hệ nhà nước - xã hội.
    • Các học giả Pháp về tính thế tục: Claude Durand (2004, La laïcité), Jean-Paul Willaime (2011), Đỗ Quang Hưng và Claude Langlois (2007).
    • Sách dịch của Lữ Vân (2003) về tôn giáo Trung Quốc, Lưu Bành (2009) về tôn giáo Mỹ; cùng các dự báo của Alvin Toffler, Samuel Huntington, André Malraux, Linda Woodhead (2001), J. Rousselet (2001).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, luận án tập trung lấp đầy khoảng trống lý luận về việc xác lập một khung phân tích toàn diện cho "luật pháp về tôn giáo" gắn với mô hình thể chế nhà nước thế tục trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam; phân tích thực chứng sự vận động của pháp luật tôn giáo từ sau Nghị quyết 24/NQ-TW (1990) đến Hiến pháp sửa đổi năm 2013.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng 5 lý thuyết chuyên ngành:

  • Lý thuyết chức năng (Emile Durkheim): Phân tích nguồn lực xã hội của tôn giáo, giải thích sự biến đổi của luật pháp tôn giáo dưới tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ lịch sử.
  • Lý thuyết xã hội học tôn giáo: Xem xét tổ chức tôn giáo như một bộ phận cấu thành đặc biệt của xã hội dân sự, chịu sự điều chỉnh của thể chế xã hội.
  • Lý thuyết địa - tôn giáo: Xem xét không gian phân bố, sự chuyển dịch và biến động của các quần thể tôn giáo theo vùng địa lý tại Việt Nam.
  • Lý thuyết văn hóa học tôn giáo: Tìm kiếm sự đồng thuận, giao thoa về chuẩn mực đạo đức, văn hóa giữa tôn giáo, nhà nước và cộng đồng.
  • Lý thuyết luật học so sánh: Khảo cứu kinh nghiệm lập pháp tôn giáo theo chiều ngang của các quốc gia để rút ra bài học cho Việt Nam.

Hệ thống 10 khái niệm và thuật ngữ cốt lõi được định nghĩa trong luận án gồm:

  1. Tôn giáo (dưới góc độ pháp lý): Vận dụng định nghĩa tại Khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004): "Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận".
  2. Tín ngưỡng: Hệ thống niềm tin dân gian, chưa có hệ thống giáo lý và tổ chức chặt chẽ, gắn với sinh hoạt văn hóa truyền thống.
  3. Luật pháp về tôn giáo: Tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
  4. Nhà nước pháp quyền: Thể chế chính trị đề cao tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền công dân và quyền con người.
  5. Chính sách tôn giáo: Thái độ, quan điểm ứng xử của Nhà nước đối với tôn giáo, thể hiện qua chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
  6. Quản lý nhà nước về tôn giáo: Hoạt động thực thi quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) nhằm điều chỉnh các quá trình tôn giáo tuân thủ quy định pháp luật.
  7. Pháp nhân: Địa vị pháp lý độc lập của một tổ chức theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự và Điều 16 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.
  8. Công ước quốc tế: Các văn kiện thỏa thuận đa phương về nhân quyền và tự do tôn giáo mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
  9. Thể chế thế tục: Nguyên tắc phân ly giữa quyền lực chính trị nhà nước và quyền lực tôn giáo, bảo đảm tính trung lập của nhà nước đối với các tôn giáo.
  10. Vô thần: Quan điểm thế giới quan không phụ thuộc vào niềm tin thần thánh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn tư liệu

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản học: Phân tích nội dung, đối chiếu quy phạm trong các văn bản pháp luật, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu mô hình thể chế và kỹ thuật lập pháp giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Kết hợp phương pháp lịch đại (tiến trình phát triển theo thời gian) và đồng đại (bối cảnh tại các thời điểm lịch sử cụ thể).
  • Phương pháp thống kê, phân tích văn bản: Tổng hợp, xử lý dữ liệu định lượng về tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự và các văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Tiến hành các cuộc tọa đàm chuyên đề hẹp, phỏng vấn sâu và trao đổi trực tiếp với các chuyên gia đầu ngành, nhà quản lý và chức sắc tôn giáo.
  • Nguồn tư liệu: Các tập Văn kiện Đảng (tập 1 đến 54); hệ thống văn bản pháp quy của Ban Tôn giáo Chính phủ (năm 2000, 2001, 2012); Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Đề án "Chính sách tổng thể về mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam" (năm 2010); tài liệu của Vụ Tôn giáo (Ban Dân vận Trung ương) và Viện Nghiên cứu Tôn giáo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN

Chương này dành cho việc tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong và ngoài nước, đồng thời xác lập hệ thống 10 khái niệm, công cụ thuật ngữ cơ bản làm nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án. Tác giả khẳng định tính tất yếu của việc tiếp cận luật pháp tôn giáo từ góc độ nhà nước pháp quyền thế tục và hội nhập quốc tế.

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ HÌNH THÀNH LUẬT PHÁP VỀ TÔN GIÁO

Chương 2 luận giải các nền tảng tư tưởng và bức tranh thực tiễn định hình nên luật pháp tôn giáo:

  1. Cơ sở lý luận:

    • Phân tích quan điểm Mác - Lênin về tôn giáo: Làm rõ hoàn cảnh lịch sử của luận điểm "Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" của C. Mác, phê phán các cách hiểu dung tục, máy móc coi tôn giáo là thứ độc hại cần xóa bỏ ngay lập tức; khẳng định tôn giáo là nhu cầu tinh thần tồn tại lâu dài cùng chủ nghĩa xã hội.
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Kết hợp tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc với nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng.
    • Về mô hình Nhà nước thế tục: Phân tích 4 mô hình thế tục tại châu Âu:
      • (1) Mô hình quốc giáo (Bắc Âu, Ý, Tây Ban Nha);
      • (2) Mô hình tôn giáo dân sự (Hoa Kỳ);
      • (3) Mô hình đa nguyên tôn giáo (Đức, Bỉ, Hà Lan);
      • (4) Mô hình thế tục trung lập triệt để (Pháp). Luận án khẳng định mô hình thứ ba (ưu tiên cho sự đa dạng tôn giáo) là mô hình thích hợp nhất với điều kiện lịch sử - văn hóa của Việt Nam.
  2. Cơ sở thực tiễn và số liệu thống kê:

    • Đời sống tôn giáo thế giới và Việt Nam có sự phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn trầm lắng cuối thế kỷ XX.
Chỉ tiêu thống kê Dữ liệu ghi nhận trong luận án Nguồn dẫn trong văn bản
Cơ cấu tôn giáo thế giới Kitô giáo: 33%; Hồi giáo: 21%; Ấn giáo: 14%; Phật giáo: 6% Adherents.com (Bảng 2.1)
Dân số có đời sống tín ngưỡng Trên 95% dân số Việt Nam Ban Tôn giáo Chính phủ
Số lượng tín đồ tôn giáo Gần 24 triệu người (chiếm khoảng 27% dân số) Ban Tôn giáo Chính phủ
Cộng đồng người Chăm Khoảng 100.000 người (năm 2010, theo Islam và Bàlamôn) Ban Tôn giáo Chính phủ
  • Ba đặc điểm nổi bật của tôn giáo Việt Nam:
    1. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo nhưng có truyền thống hài hòa, dung hợp, cởi mở;
    2. Đời sống tôn giáo mang đậm tính tiếp biến văn hóa (nội sinh hóa tôn giáo ngoại nhập và điều chỉnh nghi lễ theo văn hóa bản địa);
    3. Đời sống tôn giáo luôn biến động và gắn liền với hoàn cảnh chính trị của đất nước.
  • Vấn đề tôn giáo - tộc người tại các vùng trọng điểm:
    • Khu vực Tây Nguyên: Đạo Tin Lành phát triển mạnh mẽ, từng bị lợi dụng qua phong trào FULRO, Tin Lành Đề Ga (2001, 2004); dần ổn định sau Chỉ thị 01/2005/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
    • Khu vực Tây Bắc: Sự phát triển nhanh của đạo Tin Lành trong đồng bào Mông, Dao tiềm ẩn nguy cơ xung đột văn hóa truyền thống và chuyển hóa thành điểm nóng chính trị nếu không quản lý tốt.
    • Khu vực Tây Nam Bộ: Phật giáo Nam tông Khmer gắn chặt với truyền thống văn hóa - tộc người Khmer, cần các chính sách đặc thù về đào tạo tăng sinh và cơ sở thờ tự.
    • Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ: Cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo và Bàlamôn giáo trong xu thế hội nhập khu vực.
  1. Lịch sử và kinh nghiệm quốc tế: Điểm lại quá trình tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước từ các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII-XVIII tại Pháp (Luật năm 1905), Hoa Kỳ và kinh nghiệm lập pháp của Liên bang Nga (Luật năm 1997), Trung Quốc (Điều lệ Thượng Hải 1995).

Chương 3: TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Chương 3 phân tích dòng chảy lập pháp qua các thời kỳ lịch sử:

  • Giai đoạn trước Đổi mới (1945 - 1986): Từ Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh – văn bản pháp lý nền tảng đầu tiên quy định về việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và trách nhiệm của chức sắc tôn giáo.
  • Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2013:
    • Thể chế hóa Nghị quyết 24/NQ-TW (1990) qua Nghị định số 69/HĐBT (1991), Nghị định số 26/1999/NĐ-CP;
    • Cột mốc quan trọng: Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/6/2004 (có hiệu lực từ 15/11/2004) và Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành;
    • Ban hành Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành;
    • Đỉnh cao là sự ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 (chuyển đổi chủ thể quyền từ "công dân" sang quyền con người "mọi người").
  • Đánh giá thành tựu và hạn chế:
    • Thành tựu: Tạo hành lang pháp lý thông thoáng giúp sinh hoạt tôn giáo phục hồi, hàng vạn cơ sở thờ tự được xây dựng/trùng tu, việc in ấn kinh sách và đào tạo chức sắc phát triển, mở rộng quan hệ quốc tế của các giáo hội.
    • Hạn chế (sau 8 năm thực hiện Pháp lệnh TNTG): Thiếu vắng quy định về tư cách pháp nhân phi thương mại của tổ chức tôn giáo trong Bộ luật Dân sự; tranh chấp đất đai tôn giáo phức tạp; thiếu quy định điều chỉnh hoạt động từ thiện xã hội; thiếu chế tài hành chính - tư pháp rõ ràng để xử lý các vi phạm; hiệu lực pháp lý ở tầm Pháp lệnh chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn.

Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Chương 4 chỉ ra các thách thức đương đại và đề xuất phương hướng hoàn thiện:

  • Vấn đề đặt ra đối với tôn giáo: Nhu cầu mở rộng tổ chức, hiện tượng tôn giáo mới (tà đạo, đạo lạ), sự chuyển dịch địa bàn truyền giáo về vùng đô thị, khu công nghiệp và vùng dân tộc thiểu số, nguy cơ thương mại hóa và mê tín dị đoan.
  • Vấn đề đặt ra cho quá trình lập pháp: Đòi hỏi cấp thiết phải nâng cấp từ hình thức "Pháp lệnh" lên thành "Luật Tín ngưỡng, tôn giáo" nhằm tương thích với Hiến pháp năm 2013 và các công ước quốc tế về quyền con người (ICCPR 1966).
  • Các nhóm khuyến nghị cốt lõi:
    1. Hoàn thiện khung pháp lý: Sớm ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; sửa đổi, bổ sung các luật liên quan (Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Luật Giáo dục) để xác lập rõ tư cách pháp nhân và quyền tài sản của tổ chức tôn giáo.
    2. Đổi mới công tác quản lý nhà nước: Chuyển đổi tư duy từ "quản lý, kiểm soát, xin - cho" sang "phục vụ, hướng dẫn và đảm bảo quyền"; phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan hành chính.
    3. Phát huy nguồn lực xã hội của tôn giáo: Tạo điều kiện pháp lý để các tổ chức tôn giáo tham gia bình đẳng vào các hoạt động y tế, giáo dục, trợ giúp xã hội và bảo vệ môi trường.
    4. Xử lý vấn đề tôn giáo - dân tộc: Kết hợp chính sách tôn giáo với chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận giải có hệ thống tiến trình đổi mới nhận thức và lập pháp tôn giáo tại Việt Nam như một quá trình vận động biện chứng: xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đời sống tôn giáo buộc Nhà nước phải đổi mới tư duy, từ đó điều chỉnh thể chế pháp luật.
  • Xây dựng khung lý thuyết tiếp cận luật pháp về tôn giáo gắn liền với mô hình Nhà nước pháp quyền thế tục và nguyên tắc bảo đảm quyền con người, trong đó khẳng định mô hình nhà nước thế tục ưu tiên sự đa dạng tôn giáo là phù hợp nhất với Việt Nam.
  • Làm rõ bản chất của luật pháp tôn giáo gồm hai nhóm quy phạm quan hệ hữu cơ: nhóm điều chỉnh quyền tự do tôn giáo cá nhân và nhóm điều chỉnh tư cách, hoạt động của tổ chức tôn giáo cùng công tác quản lý nhà nước.

Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách

  • Đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu đạt được cũng như các "điểm nghẽn" thể chế sau 8 năm thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004 - 2012).
  • Cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng phục vụ trực tiếp cho quá trình soạn thảo Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (nhằm thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo) sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tháo gỡ các vướng mắc kéo dài về tư cách pháp nhân, quyền sở hữu đất đai tôn giáo, xã hội hóa y tế - giáo dục tôn giáo và giải quyết quan hệ tôn giáo - tộc người.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Mốc thời gian nghiên cứu của luận án dừng lại tại thời điểm Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2013 được thông qua, do đó chưa khảo sát trực tiếp giai đoạn Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chính thức được ban hành và đi vào đời sống.
    • Do điều kiện nghiên cứu, tác giả chưa thể tự tiến hành các đợt điền dã quy mô lớn độc lập trên toàn quốc mà chủ yếu khai thác nguồn dữ liệu thống kê từ các cơ quan quản lý chuyên trách (Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận Trung ương) kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia.
    • Luận án tập trung chủ yếu vào các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân, chưa đi sâu khảo sát toàn diện các hiện tượng tôn giáo mới chưa được cấp đăng ký.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Đánh giá tác động thực tiễn của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 sau một thời gian áp dụng;
    • Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản, đất đai tôn giáo dưới góc độ Luật Đất đai sửa đổi và Bộ luật Dân sự;
    • Nghiên cứu chuyên sâu về các hiện tượng tôn giáo mới và các phong trào tâm linh xuyên quốc gia trong kỷ nguyên số.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo giá trị cho Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Nội vụ, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan làm công tác dân tộc - tôn giáo các cấp trong việc hoàn thiện và thực thi văn bản quy phạm pháp luật.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Cung cấp nguồn tài liệu tổng quan, phương pháp luận nghiên cứu liên ngành giữa Tôn giáo học, Luật học và Xã hội học.
  • Đối với giảng dạy: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho học phần "Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo", "Xã hội học tôn giáo", "Quản lý nhà nước về tôn giáo" tại các trường đại học, học viện khối khoa học xã hội và hành chính - chính trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận điểm nào của Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) được coi là bước ngoặt trong nhận thức về tôn giáo ở Việt Nam?
Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị xác lập 3 luận điểm bước ngoặt: (1) Tôn giáo còn tồn tại lâu dài; (2) Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; (3) Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.

2. Luận án đề xuất mô hình Nhà nước thế tục nào phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam?
Qua việc khảo cứu 4 mô hình thế tục ở châu Âu (quốc giáo, tôn giáo dân sự, đa nguyên tôn giáo, thế tục trung lập triệt để), luận án kết luận mô hình thứ ba – mô hình ưu tiên cho sự đa dạng tôn giáo – là mô hình phù hợp nhất với truyền thống lịch sử, văn hóa đa tôn giáo hài hòa của Việt Nam.

3. Khái niệm "Tổ chức tôn giáo" được quy định như thế nào trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004?
Theo Khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh năm 2004: "Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận".

4. Điểm nghẽn lớn nhất trong pháp luật dân sự đối với các tổ chức tôn giáo được chỉ ra là gì?
Đó là Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa quy định rõ ràng tư cách pháp nhân phi thương mại độc lập cho các tổ chức tôn giáo, khiến các giáo hội gặp nhiều rào cản khi tham gia các giao dịch dân sự, xác lập quyền sở hữu tài sản và tham gia hoạt động xã hội hóa.

5. Vấn đề tôn giáo - tộc người tại khu vực Tây Nguyên được giải quyết bước đầu bằng văn bản pháp lý quan trọng nào?
Đời sống tôn giáo tại Tây Nguyên bước đầu ổn định trở lại sau những phức tạp chính trị nhờ việc ban hành và triển khai Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành.


Kết luận

Luận án "Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Vân Hà là công trình khoa học chuyên ngành Tôn giáo học có tính hệ thống cao, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận tôn giáo học, xã hội học với khoa học pháp lý. Bằng việc phân tích sâu sắc tiến trình đổi mới chính sách từ Nghị quyết 24/NQ-TW năm 1990 đến Hiến pháp năm 2013, luận án đã làm rõ sự cần thiết khách quan của việc quản lý hoạt động tôn giáo bằng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền thế tục. Các luận cứ, số liệu thực chứng và nhóm khuyến nghị lập pháp trong luận án đã đóng góp thiết thực vào việc chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.