CHƯƠNG 1: NGHI LE HAU DONG VÀ ĐỜI SONG TINH THAN NGƯỜI DÂN HÀ NỘI HIỆN NAY 1. Nghỉ lễ Hầu đồng 1. Một số khái niệm Nghi lễ Hau đồng là nghi thức chính của tín ngưỡng thờ Mẫu, phổ biến tại nhiều vùng ở miền Bắc, Việt Nam. Dé hiểu rõ hơn về nghỉ lễ Hầu đồng, tác giả luận văn xin phép được nêu và làm sáng tỏ một số khái niệm sau đây: * Tín ngưỡng thờ Mẫu Theo Viện văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam: “Trên nên tảng của tín ngưỡng thờ Nữ thân.
Người dân thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với các vị Thánh Mẫu cai quản miễn tròi, rừng, nước, hình thành và phát triển mạnh mẽ. Tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân ”. Gia trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu là cái tâm hướng thiện, bởi Mẫu là mẹ, mỗi người mẹ đều mong muốn và dạy dỗ con sống hướng thiện. Người đến thờ Mẫu tâm phải sáng.
Trong cuộc sống thể hiện là người biết ăn ở, biết đối nhân xử thế, thành tâm thờ phụng ông bà, tổ tiên. Cao hơn là biết ơn những người có công với dân, với nước. Năm 2016 “Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” (với tiêu dé tiếng Anh là Practices related to the Việt beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms) đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thê đại diện của nhân loại. Trên nền tảng tín ngưỡng thờ nữ thần, tín ngưỡng thờ Mẫu ta phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời * Nghỉ lễ 12 Về mặt từ nguyên Ritual (nghi lễ) trong tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Latin là Ritus.
Nghi lễ là phương tiện dẫn dắt đời sống tinh thần cho con người tới điều đúng đắn và giúp con người với tín ngưỡng, tôn giáo dé hòa nhập. Nghi lễ còn là hành động thường được thê hiện qua sự ứng xử, giao tiếp trong xã hội, trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo thông qua đời sống tâm linh được thực hiện theo một khuôn mẫu, lặp đi lặp lại và mang đậm sắc thái dân tộc của mỗi quốc gia, vùng miễn. Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2003): “Nghi lễ là các nghỉ thức của một cuộc lỄ và trật tự tiến hành”. Trong “Bách khoa tong hợp - kiến thức thời đại” khái niệm về nghi lễ là “Một chuỗi cử chỉ dé đáp ứng những yêu câu chủ yếu, những cử chỉ đó phải được thực hiện như một chuẩn mực hài hòa nào đó.
” Trong điển Hán Việt “Nghỉ” ({#) tức là phép tắc, tiêu chuẩn , phong thái, dáng vẻ bên ngoài ra, “Nghi” còn có nghĩa là hướng theo, cũng có thể hiểu là tam gương dé tất cả mọi người noi theo. “LỄ” (Ể) là lay hình thức lễ cúng tốt đẹp bên ngoài dé biểu thị niềm tôn kính bên trong. Ngoài ra thì “Lễ” còn có nghĩa là vật phẩm dâng biếu dành cho bề trên “LỄ” trong tín ngưỡng, tôn giáo là các hình thức sinh hoạt chủ chốt và có tính thiêng, giá trị tâm linh trong đời sống của những tín đồ tôn giáo Phật giáo, Công giáo, Islam, Tin Lành, tín ngưỡng thờ Mẫu. “Lễ” trong lễ hội dân gian tại làng xã là sự kiện văn hóa được tô chức mang tính cộng đồng, được dùng dé chỉ những cuộc tụ họp vào ngày hội của dân chúng, tại các vùng làng quê do người dân nơi đó tô chức nhằm biểu hiện lòng tôn kính với thần linh — nhân vật lịch sử, tổ nghề, những người có công.
Lễ hội là sinh hoạt văn hóa gắn liền với đời sống tinh thần của người Việt Nam lâu nay, đồng thời đây cũng là nơi mà những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc được tái hiện lại từ phong tục tập quán, trang phục, nghi lễ, âm nhạc trò 13 chơi 4m thực. Có thé coi lễ hội dân gian như một "bảo tàng sống" về văn hoá và lưu giữ lại đầy đủ nhất các giá trị văn hoá của một cộng đồng. Với người Việt, đi lễ, đi hội là một cách thoả mãn nhu cầu tâm linh và giải toả áp lực một năm làm việc vat vả. Lễ hội đáp ứng cho quan chúng nhu cầu tìm hiểu về lịch sử thông qua những nhân vật được thờ cúng dé gắn kết cộng đồng và giải tri * Lễ hội Thánh Mẫu Liêu Hạnh Hàng năm, lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tổ chức long trọng tại tất cả những địa phương nơi có đền thờ bà, trải doc từ Bắc chí Nam, là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Hàng năm, tại các đền, phủ thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh vào ngày 3/3 tháng 3 và 13/8 âm lịch đều tổ chức lễ tiệc của Mẫu Liễu Hạnh dé tưởng nhớ công ơn của Mẫu đã giúp đỡ dân chúng. Đây cũng là dịp để các con nhang đệ tử, con dân của Mẫu quy tụ lại và hòa không gian văn hóa, những nét đẹp của sinh hoạt dân gian và thé hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tại đây, người di lễ sẽ tiến hành thực hiện lễ nghi và các hoạt động sinh hoạt văn hoá mang tính phong tục, tập quán. Điều này thé hiện ý thức xã hội hướng về cội nguồn mà trong đó người Mẹ là một biểu tượng, ý thức yêu đất nước, gắn bó với quê hương, dân tộc, ý thức về một đời sống thường nhật với các nhu cau về vật chat, tinh thần.
Từ góc độ xã hội, lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng văn hoá đang diễn ra một cách sống đội trong cuộc sống hiện tại của một con người. không chỉ đáp ứng nhu cau tự do tôn giáo tín ngưỡng mà còn đáp ứng cả về đời sống văn, tâm linh, tinh thần, hướng con người về những giá tri tốt đẹp. Ngoài ra, lễ hội cũng đáp ứng tâm thức trở về nguồn của mỗi một con người, trong đó có cội nguồn dân tộc, cội nguồn lịch sử và tự nhiên xã hội. Lễ hội tạo điều kiện dé con người khám phá và hưởng thụ văn hoá, trở thành nhu câu tự nhiên, thành sự phân khởi và trông đợi cua họ vê những ước vong đôi 14 với Thánh Mẫu.
Những giá trị của lễ hội không chỉ dừng lại ở mỗi cá nhân hay mỗi dân tộc mà còn được lan toả rộng thành một tài sản văn hoá chung, tôn vinh giá trị văn hóa và cô kết cộng đồng dân tộc. Người ta đến với Mẫu đều có những ước vọng và mong cầu khác nhau, dé có thé truyén tai được tâm tư, nguyện vọng tới Mẫu, Thánh thần nơi ay, ho có thé trực tiếp cầu khan hoặc thông nghi lễ Hau đồng dé được nghe phán truyền từ các vị Thánh, Quan. Mẫu là biểu tượng, được dân gian được gan voi một quyền uy va kha năng siêu pham có thé phù hộ che chở cho muôn van chúng sinh với những hoàn cảnh và vận hạn khác nhau. Biểu tượng ấy gắn kết những số phận có chung một nỗi niềm lại với nhau, tạo thành một cộng đồng, sự gan kết, cảm thông cho số phận ho.
Không chỉ thé đây con là nơi gin giữ và trao truyền văn hoá cho thế hệ mai sau, điều đó làm cho văn hoá được lâu bên, bảo đảm tính thong nhất và tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc. Tóm lại, nghi lễ theo nghĩa rộng là phương tiện dẫn dắt đời sống tinh thần cho con người, là phép tắc mà người xưa đã định ra, bao quát từ hành vi, thái độ, đi đứng, giao tiếp của con người trong xã hội cho tới cưới hỏi, cúng lễ, tang ma. Theo nghĩa hẹp thì nghi lễ một chuỗi các hành động được thực hiện theo khuôn mẫu định sẵn, được lặp đi lặp lại và một phần của nghỉ lễ tín ngưỡng, tôn giáo, còn là cách bày tỏ lòng ngưỡng mộ của con người đối với các vị thần thánh * Nghỉ lễ Hau đông (Hau bóng) Hau đồng (Hau bóng, Lên đồng hay Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu) là một nghi lễ chính và đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Ý nghĩa của từ Hầu bóng còn có thé hiểu là linh hồn, hình bóng phản chiếu của Thần linh khi nhập bóng (hồn) vào thân xác ông, bà Đồng Đến với loại hình tín ngưỡng tâm linh độc đáo này, ta có thê thấy được sự khác biệt so với nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác là tín ngưỡng thờ 15 Mẫu hướng niềm tin con người về thế giới thực tại với những mong cầu của họ về sức khỏe, tiền tài, công danh, sự nghiệp chứ không phải thế giới sau khi “khuất núi”.
Đề thần linh có thê đáp ứng được những ước vọng ấy sẽ cần phải có sự trợ giúp của các ông/bà Đồng, lúc này họ đóng vai trò là người hầu hạ cho bóng của các Ngài và “cầu nối” giữa thần linh với con người thông qua việc nhập hồn nhiều lần của các vị Thánh vào thân xác của các Thanh Đồng. Mỗi khi tới ngày phải Hau đồng các ông/bà Đồng thường phải chọn ngày lành tháng tốt, dé phù hợp với căn số, trạng thái tinh than, cơ thé cũng như công việc. Qua lăng kính của GS. Ngô Đức Thịnh “Lén dong là hiện tượng nhập hon nhiêu lan của các vị than linh.
T;rong đó, thời gian noi lần một vi thân linh nhập hồn (giáng dong, nhập đông), rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghỉ lễ, nhảy múa, ban lộ, phán truyén) và xuất hon (thăng dong), được gọi là một gia dong (tức thời gian thân linh ngự trị trên cái giá của mình là các ông Đồng bà Đồng”. [21, tr 82] Theo tác gia Nguyễn Duy Hinh “Bản chất thực của nghỉ lễ lên dong là loại hình tôn giáo trực tiếp từ người đến than và từ than đến người. Tất cả diễn ra trong tiềm ý thức con dong và thể hiện ra bên ngoài ”[32, tr874] Như đã đề cập, nghi lễ Hầu đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của thần linh vào thân xác ông bà Đồng để cầu mong sức khỏe, tài lộc. Về bản chất, nghi lễ này mang trong mình yếu tố Shaman nhưng không hoàn toàn đồng nhất với các hiện tượng Shaman của người Siberia (xuất, thoát hồn) hay Then của người Tày (nhập và xuất hồn).
Giống như tín ngưỡng thờ Mẫu thì tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Triều) thì Hầu đồng cũng là một nghi lễ quan trọng, thuật ngữ “Đồng Cốt” cũng thường được nhắc tới khi đề cập tới nghi lễ Hầu đồng và cũng có nhiều cách giải nghĩa khác nhau.