CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM 1. Nguồn gốc và lịch sử hình thành Phật giáo là một tôn giáo ra đời ở Ấn Độ thế kỷ thứ VI (TCN), người sáng lập là Tất Đạt Đa (Siddhartha), họ Gautama (Cồ Đàm) vốn là thái tử con vua Tịnh Phạn. Thái tử Tất Đạt Đa (563-643) được sinh ra ở thành Ca Tỳ La Vệ (nay thuộc Nepal). Sau khi giác ngộ thành Phật, Tất Đạt Đa được các học trò tôn xưng là Thích Ca Mâu Ni (Sàkyamuni), có nghĩa là đấng giác ngộ.
Từ nhỏ, Tất Đạt Đa đã được nhà vua hết sức yêu quý và kỳ vọng sau này sẽ trở thành người kế tục vua cha trị vì đất nước. Thái tử được giáo dục đầy đủ, được sống trong sung sướng. Tuy vậy, ngay từ nhỏ, Thái tử đã luôn trầm tư mặc tưởng, luôn suy nghĩ về cuộc đời, về ý nghĩa cuộc sống con người mà không có ham muốn hưởng thụ cuộc sống giàu sang phú quý. Trong lần ra khỏi hoàng cung, thái tử Tất Đạt Đa chứng kiến cảnh sinh, lão, bệnh, tử điều đó đã khiến cho thái tử càng gợi lên những suy tuy về nỗi khổ đau của cuộc đời.
Năm 29 tuổi, Thái tử bỏ trốn khỏi kinh thành, đi tìm con đường cứu khổ. Trải qua nhiều năm tu tập với nhiều phương thức tu tập khác nhau, trong đó có 6 năm tu hành khổ hạnh, ép xác nhưng không đạt được kết quả. Thái tử Tất Đạt Đa thấy rằng lối tu hành khổ hạnh chỉ làm suy giảm tri thức, mệt mỏi tinh thần nên đã quyết tâm từ bỏ lối tu ấy và chuyển sang con đường trung đạo. Cuối cùng thái tử Tất Đạt Đa đã đạt được giác ngộ sau khi ngồi thiền 49 ngày dưới gốc cây Bồ Đề.
Sau khi giác ngộ, Đức Phật dành tất cả thời gian còn lại của cuộc đời để truyền bá đạo của mình. Lúc sinh thời, Đức Phật không viết sách, sau khi Đức Phật nhập niết bàn, các học trò của Đức Phật đã ghi chép lại những lời Phật dạy, tạo thành hệ thống tam tạng kinh điển sau này. Sau khi Đức Phật nhập niết bàn, Phật giáo được truyền bá ở Ấn Độ và một số nước, khu vực trên thế giới, nhất là vào giai đoạn triều đại vua Asoka (vua A Dục). Dưới triều đại vua A Dục, Phật giáo ở Ấn Độ phát triển rất mạnh mẽ, Phật giáo được tôn sùng, vua A Dục cũng trở thành tín đồ Phật giáo.
Theo các tài liệu, vua A Dục đã cử 8 đoàn truyền giáo ra nước ngoài, trong đó có đoàn truyền giáo đến khu vực Đông Nam Á. 3 Cũng từ khi Đức Phật nhập niết bàn, Phật giáo dần chia thành các hệ phái, bộ phái khác nhau: Thượng toạ bộ, Đại chúng bộ. Thượng toạ bộ chủ trương tuân thủ đúng theo Kinh, Luật, Luận như thời Đức Phật. Đại chúng bộ có chủ trương cải cách, phát triển kinh điển, giáo lý theo tinh thần của Đức Phật.
Phái Đại chúng bộ truyền lên phương Bắc (Trung Quốc, Tây Tạng, v.) nên cũng gọi là Phật giáo Bắc truyền. Phái Thượng toạ bộ cũng gọi là Phật giáo Nguyên thuỷ, truyền xuống phương Nam nên cũng gọi là Phật giáo Nam truyền. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, đã hình thành nhiều tông phái khác nhau: Thiền tông, Pháp tướng tông, Tam luận tông, Hoa nghiêm tông, Tịnh độ tông, Luật tông, Thiên thai tông, v. Phật giáo truyền lên Tây Tạng, tạo thành Phật giáo Mật tông hay Phật giáo Kim Cương Thừa.
Quá trình du nhập, phát triển ở Việt Nam Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầu Công nguyên, hiện nay có những nghiên cứu chỉ ra rằng, Phật giáo đã truyền vào Việt Nam từ trước Công nguyên, tức là thời kỳ các vua Hùng. Một số tư liệu đã chỉ ra, từ thời Hai Bà Trưng, ở Việt Nam đã có các ngôi chùa và những người tu hành theo Phật giáo1. Phật giáo truyền vào Việt Nam thông qua hai con đường (đường biển và đường bộ) và hai hướng: từ phía Nam truyền lên và phía Bắc truyền xuống. Thời gian đầu, Phật giáo thông qua các hoạt động giao lưu, trao đổi hàng hoá, thương mại từ Ấn Độ đã lan truyền vào các quốc gia Đông Nam Á rồi truyền vào Việt Nam.
Theo cuốn “Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hoá ở Viễn Đông”, trong các chuyến tàu của các đoàn thương nhân Ấn Độ đến các quốc gia Đông Nam Á, bao giờ cũng có các nhà tu hành Phật giáo để làm các nghi lễ tâm linh, cầu bình an cho mọi người và chuyến đi. Vào khoảng thế kỷ thứ II-III, Phật giáo đã hiện diện rất rõ nét ở Việt Nam. Luy Lâu là một trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam và cả của khu vực. Nơi đây có nhiều nhà sư Ấn Độ, nhà sư Trung Hoa… quy tụ về đây để dịch kinh sách Phật giáo, học tiếng Phạn, truyền bá Phật giáo, v.
Chẳng hạn như Khâu Đà La (thế kỷ 2), Chi Cương Lương (thế kỷ 3), Khương Tăng Hội (thế kỷ 3), Ma Ha Kỳ Vực (thế kỷ 3–4), Đạt Ma Đề Bà (thế kỷ 5), Mâu Bác (người Trung Quốc, thế kỷ 2) với tác phẩm Lý Hoặc Luận. 1 Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Sư Bà Phương Dung với đạo pháp và dân tộc”, Hà Nội, tháng 4/2021. 4 Có tài liệu cho rằng, Luy Lâu còn hình thành sớm hơn cả trung tâm Phật giáo ở Bành Thành và Lạc Dương (Trung Quốc) và Khương Tăng Hội, một thiền sư gốc Ấn sinh ra và lớn lên tại Giao Châu đã biên soạn Lục độ tập kinh, sau đó truyền bá Phật giáo tại nước Ngô, Trung Quốc. Sách Cao Tăng truyện viết, Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp, thủ đô của nước Ngô, nay là Nam Kinh, Trung Quốc vào năm 2472.
Thời kỳ này xuất hiện một số tác phẩm như Lục Độ Tập kinh, Cựu Tạp Thí Dụ kinh, An Ban Thủ Ý, Lý Hoặc Luận, Pháp Hoa Tam Muội, v. đây là những tác phẩm được dịch, luận giải, bình chú sớm nhất ở Giao Châu cho thấy sự xuất hiện của Phật giáo từ lâu ở đây. Trong các thế kỷ tiếp theo, tiếp tục có những thiền sư Ấn Độ, Trung Quốc tiếp tục truyền bá Phật giáo vào Việt Nam thể hiện ở hai thiền phái tiêu biểu là Tỳ ni đa lưu chi (Vinitaruci) và Vô Ngôn thông. Năm 580 thiền sư Tỳ ni đa lưu chi người Ấn Độ đã Việt Nam truyền bá Phật giáo, lập lên phái thiền mang tên ông.
Phái thiền này truyền thừa được 19 đời (theo Thiền uyển tập Anh). Năm 820, một thiền sư Trung Quốc tên là Vô Ngôn Thông đã đến Việt Nam ở chùa Kiến Sơ (làng Phù Đổng, Gia Lâm ngày nay) tu tập và truyền bá Phật giáo, lập lên dòng thiền Vô Ngôn Thông, truyền thừa được 15 thế hệ. Phật giáo ở Việt Nam tiếp tục phát triển cho đến thế kỷ thứ IX, X đặc biệt là thế kỷ XI-XIV, tức là thời kỳ Lý Trần. Có thể nói, đây là giai đoạn Phật giáo phát triển cực thịnh nhất ở nước ta.
Các vua Lý, vua Trần đều là những người sùng bái Phật giáo. Vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), được nuôi dưỡng trong chùa từ nhỏ, được các vị thiền sư nuôi dạy. Vua Lý Thái Tông thuộc thế hệ thứ bảy thiền phái Vô ngôn thông. Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhất thiền phái Thảo Đường.
Lý Anh Tông là thế hệ thứ ba và Lý Cao Tông là thế hệ thứ năm thiền phái Thảo Đường. Lý Huệ Tông, sau khi nhường ngôi cho con là Lý Chiêu Hoàng cũng đi tu với hiệu là Huệ Quang thiền sư3. Khi triều đình sùng Phật giáo, quan lại và người dân cũng đều tin sùng Phật giáo. Thời Lý, nhiều ngôi chùa được xây dựng.
Sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, Lý Thái Tổ cho xây chùa Hưng Phúc, chùa Thắng Nghiêm, chùa Vạn Tuế, chùa Tứ Đại Thiên Vương, chùa Long Hưng Thánh Thọ, chùa Thiên Quang, Thiên Đức, chùa Chân Giáo. Đời vua Lý Thái Tông, các ngôi chùa được tiếp tục xây dựng. Năm 1041, 2 Nguyễn Lang (2014), Việt Nam Phật giáo sử luận, toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. 3 Xem Nguyễn Tài Thư (chủ biên, 1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.
5 vua cho xây viện Từ Thị Thiên Phúc ở núi Tiên Du, năm 1049 dựng chùa Diên Hựu (chùa Một Cột ngày nay). Đời vua Lý Thánh Tông tiếp tục cho xây dựng các ngôi chùa như Sùng Khánh Báo Thiên (hay chùa Báo Thiên), chùa Thiên Phúc, Thiên Thọ. Năm 1058 xây tháp Tường Long ở Đồ Sơn4. Thời Lý có nhiều nhà sư tài giỏi, có nhiều đóng góp cho đất nước như Thiền sư Vạn Hạnh (- 1018), Huệ Sinh (?-1063), Viên Chiếu (999-1090), Mãn Giác (1052-1096), Không Lộ (?-1119)5, v.
Thời Trần, Phật giáo Việt Nam tiếp tục có bước phát triển lên một tầm cao mới. Các vua nhà Trần cũng đều là những người không chỉ tôn sùng Phật giáo mà còn rất uyên thâm về Phật học. Vua Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi cho con đã lên Yên Tử tu hành và thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử - một dòng thiền riêng của Việt Nam. Nhà Trần không chỉ làm rạng danh lịch sử với 3 lần chiến thắng quân Mông Nguyên, mà còn để lại những di sản hết sức quý giá về Phật giáo.
Ngoài thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông sáng lập, truyền lại cho Pháp Loa, Huyền Quang (Tam tổ Trúc Lâm), thời Trần còn có những tác phẩm nổi tiếng về Phật học: Bài tựa Thiền tông chỉ Nam của Trần Thái Tông, Cư Trần Lạc đạo phú của Trần Nhân Tông, những ngôi chùa thời Trần, những văn bia, những di sản Phật giáo thời Trần vẫn còn để lại cho đến hôm nay khá nhiều. Sau thời Lý Trần, Phật giáo không còn được triều đình phong kiến ủng hộ như trước, tuy nhiên vẫn phát triển mạnh mẽ trong đời sống nhân gian, nhất là ở các làng xã. Thời Lê sơ, triều đình lấy Nho giáo làm chỗ dựa về tư tưởng chính trị và đạo đức, Phật giáo không được chú trọng phát triển. Thời kỳ này, không nhiều ngôi chùa được xây dựng, các nhà tu hành Phật giáo cũng không nhiều như thời Lý Trần.
Tiếp đến thời nhà Mạc (1527-1597), triều đình và tầng lớp quan lại, quý tộc đã quan tâm đến Phật giáo hơn trước, nhiều ngôi chùa được trùng tu, phục dựng hoặc sửa chữa, nhất là những ngôi chùa ở Hải Dương, Hải Phòng và Hà Nội. Thời kỳ này Phật giáo tiếp tục hoà nhập vào đời sống dân gian, gắn liền với các làng xã và dung hợp mạnh mẽ với tín ngưỡng dân gian, mà một trong số đó có tín ngưỡng thờ Mẫu. 4 Xem Nguyễn Tài Thư (chủ biên, 1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.