Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO, HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Tôn giáo Tôn giáo là một hình thức tín ngưỡng có tổ chức với những quan niệm, giáo lí và có các hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình.
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hy vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải. Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Theo Mác “Tôn giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay xung quanh con người chừng nào con người chưa bắt đầu xoay quanh bản thân mình” 7 Luan van [64, tr. Để làm sáng tỏ thêm quan điểm này của Mác, Ăngghen trong tác phẩm Chống Đuy rinh cũng đã viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ảnh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [42, tr. Các nhà nghiên cứu Mác- xít về tôn giáo thường coi câu nói trên đây của Ăngghen là định nghĩa của chủ nghĩa Mác về tôn giáo. Tôn giáo xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người; tùy theo cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về tôn giáo.
Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hội trở thành sức mạnh siêu nhiên có quyền uy tối thượng và đã tác động đến một cộng đồng, một nhóm xã hội có tổ chức. Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấp và có đấu tranh giai cấp. Do đó khi nói về tôn giáo, Lênin đã định nghĩa: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc” [37,tr. “Tôn giáo đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo, đối tượng được sùng bái.
Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh. Trong QLNN về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo cá nhân và tôn giáo có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức. Đó là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội” [14.9] Từ những quan điểm trên, cho thấy tôn giáo là nhu cầu chính đáng của một bộ phận nhân dân, là điều kiện thiết yếu, không thể thiếu của một bộ 8 Luan van phận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người và tiến bộ xã hội. Lịch sử tồn tại và phát triển của tôn giáo, gắn liền với quá trình dựng nước, giữ nước của các dân tộc.
Hoạt động tôn giáo, hội đoàn tôn giáo 1. Hoạt động tôn giáo Hoạt động tôn giáo được Luật tín ngưỡng, tôn giáo xác định: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” [Khoản 11. Việc rao giảng, thuyết giảng, truyền bá giáo lý, giáo luật, giới luật (còn gọi là truyền đạo) là một hình thức quan trọng trong việc truyền đạo của tổ chức tôn giáo, nhằm củng cố, phát triển niềm tin, tuyên truyền phổ biến những điều căn bản, cốt lõi để tín đồ sinh hoạt tôn giáo noi theo. Đối với những người chưa phải là tín đồ tôn giáo việc truyền bá sinh hoạt tôn giáo là cơ sở để họ tiếp cận, tìm hiểu, qua đó để những nhà truyền đạo thâu nạp thêm tín đồ, phát triển đạo.
Truyền bá, thực hành giáo luật, giới luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo nhằm thể hiện sự tuân thủ giáo luật, giới luật, nghi lễ tôn giáo nhằm thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tín đồ hay cộng đồng tín đồ tôn giáo. Thực hiện các nghi thức, nghi lễ, tôn giáo hay hoạt động truyền đạo là trách nhiệm của các chức sắc, tín đồ tôn giáo, hoạt động này diễn ra bình thường và trong phạm vi cơ sở tôn giáo. Hoạt động của quản lý, tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện quy định của giáo luật, giới luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo; đảm bảo sự phân định, duy trì trật tự, hoạt động của tổ chức tôn giáo. Trong các hoạt động trên, các chức sắc, chức việc, nhà truyền giáo thường phối, kết hợp việc truyền đạo, hành đạo với nhau.
Do vậy, việc phân định ranh giới giữa truyền đạo và hành đạo chỉ là tương đối. Bên cạnh đó một 9 Luan van số chức sắc tiến bộ trong một số tôn giáo đã lồng ghép một số chính sách ích nước, lợi dân trong lúc thuyết giảng, phổ biến giáo luật với tín đồ, bồi đắp thêm niềm tin tưởng vai trò QLNN với tôn giáo và tinh thần yêu nước, thương nòi. Hội, Hội đoàn tôn giáo Quan niệm về hội ở Việt Nam hiện nay Trong tiếng Việt, theo cách hiểu thông thường, danh từ “hội” có hai nghĩa gần nhau dùng để chỉ: “1) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt đồng. Chữ “hội” có thể hiểu đơn giản là tụ họp lại, gặp nhau” 1, tr.
Theo Từ điển hành chính của ông Tô Tử Hạ lại cho rằng: “Hội là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích… tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi” 41, tr. Ngoài ra, điểm qua một số sách và các bài viết liên quan của các tác giả Việt Nam cũng có đưa ra các khái niệm về hội như sau: - Sách “Pháp luật về quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới và của Việt Nam” đề xuất định nghĩa như sau: “Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất 2 cá nhân hoặc tổ chức, thường xuyên đóng góp kiến thức và sinh hoạt, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, không vì mục đích lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” 1, tr. - Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong bài viết “Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và hội và dự thảo Luật hội ở Việt Nam” lại hiểu khái niệm Hội theo 10 Luan van nghĩa “là sự thỏa thuận, liên kết, tập hợp, quy tụ của nhiều người với nhau thành nhóm để hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung” 23, tr. Trong các văn bản pháp luật về hội, nước ta cũng đưa ra những định nghĩa cụ thể và rõ ràng, phù hợp với tình hình phát triển của các hội ngay từ khi ban hành các văn bản đầu tiên.
Trong Sắc luật 038-TT/SLU ngày 22/12/1972 sửa đổi Dụ số 10 ngày 06/8/1950 quy định thể lệ lập hội (ban hành dưới chế độ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại), tại điều thứ nhất đã đưa ra một định nghĩa: “Hội là giao ước của nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hoạt động liên tục để theo đuổi mục đích thuộc các lãnh vực tôn giáo, tế tự, từ thiện, văn hóa, giáo dục, xã hội, khoa học, mỹ thuật, giải trí, đồng nghiệp tương tế, ái hữu, thanh niên và thể dục, thể thao không có tính cách chính trị, thương mại hoặc phân chia lợi tức”[1, tr. Sắc lệnh số 52/SL ngày 22 tháng 4 năm 1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề cập đến khái niệm “hội” tại Điều 1 như sau: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung; mục đích ấy không phải để chia lợi tức” 1, tr. Và theo quy định hiện hành của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội thì hội được định nghĩa là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.1 Như vậy, có thể thấy khái niệm hội của Việt Nam được trình bày cụ thể hơn, diễn đạt chi tiết hơn về đặc trưng của các hội, trong khi khái niệm của quốc tế thường diễn đạt theo cách khái quát hơn.