Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng - Tín ngưỡng Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng liêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thể cứu giúp con người thoát khỏi khổ đau, có được hạnh phúc và sự bình yên.
Có một định nghĩa khác là: “Tín ngưỡng là không phải là niềm tin nói chung, mà nó là niềm tin đặc biệt. Tín ngưỡng là gốc của tôn giáo. Mọi tín ngưỡng, tôn giáo đều có một cái chung là thế giới bên kia khác với thế giới hiện thực mà con người đang sống” [21]. - Hoạt động tín ngưỡng Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội (Khoản 2- Điều 2).
Tôn giáo và hoạt động tôn giáo - Tôn giáo Tôn giáo theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột cùng, như gắn bó với Chúa, với Thượng đế hoặc được hiểu là sự phản ánh 8 mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục. Theo quan điểm Mác-Xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội tôn giáo phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, như: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo. Còn với tư cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội, tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ tầng cơ sở xã hội.
Cụ thể hơn, tôn giáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: Ý thức, nghi lễ, luật lệ và tổ chức.Mác đã khẳng định rằng: “Con người sáng tạo ra tôn giáo”, “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là sự biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [32].
Tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội [21]. - Hoạt động tôn giáo Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Tổ chức tôn giáo và cơ sở tôn giáo - Tổ chức tôn giáo 9 Tổ chức tôn giáo là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc; có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo.
- Cơ sở tôn giáo Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo. Tín đồ, chức sắc, chức việc - Tín đồ Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận. - Chức sắc Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. - Chức việc Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức.
Quản lý nhà nước về tôn giáo Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng là hoạt động chức năng của quản lý nhà nước. 10 Quản lý nhà nước về tôn giáo hiện nay được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước về tôn giáo được hiểu là quá trình sử dụng quyền lực nhà nước (cả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu của chủ thể quản lý. Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước về tôn giáo được hiểu là làm cho các tổ chức tôn giáo chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước để điều chỉnh, định hướng hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Quản lý nhà nước về tôn giáo là chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Nhà nước đề ra các quy định bằng pháp luật và hình thành nên khung pháp lý để mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, làm cơ sở để hướng các tổ chức tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Các nguyên tắc quản lý nhà nước về tôn giáo: Một là, nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Hai là, nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nghiêm cấm sự phân biệt, đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Ba là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ công dân. Bốn là, các hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ theo quy định pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. 11 Năm là, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mọi hành vi lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, phá hoại sự đoàn kết toàn dân, làm tổn hại đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể khái quát quản lý nhà nước về tôn giáo là quá trình tác động, điều chỉnh các hoạt động tôn giáo diễn ra đúng quy định của pháp luật.
Sự cần thiết và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Vai trò của Nhà nước trong quản lý ngành và lĩnh vực “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN” [28]. Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nhà nước và kinh tế: Nhà nước được quy định bởi kinh tế, do điều kiện kinh tế quyết định. Từ sự xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan của cơ sở kinh tế, không phụ thuộc tuyệt đối, chỉ tương đối thể hiện ở 2 phương diện: 12 Nhà nước cùng các bộ phận khác của kinh tế tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh thông qua các chính sách kinh tế có căn cứ khoa học và phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại trong chừng mực nó phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị. Nhà nước có thể đóng vai trò tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế. Thể hiện chính sách kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới, kìm hãm sự phát triển của quan hệ sản xuất tiến bộ.
Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội: Các tổ chức chính trị xã hội là những hình thức và phương diện bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp. Trong các tổ chức chính trị xã hội, nhà nước là trung tâm vì: Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, là tổ chức mà quyền lực của nó bắt buộc đối với mọi người trong quốc gia thông qua pháp luật. Trong các tổ chức chính trị, Đảng chính trị có vai trò đặc biệt, là lực lượng có vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển xã hội. Đảng chính trị là tổ chức của các giai cấp, thể hiện lợi ích giai cấp và gồm những đại biểu tích cực nhất đấu tranh cho lợi ích giai cấp mình.