Đặt vấn đề Việt Nam là quốc gia ở Đông Nam Á sớm hình thành, xác lập chủ quyền và tạo dựng nên những truyền thống lịch sử hàng ngàn năm quý giá. Việt Nam là quốc gia đa tộc người, các thành phần tộc người luôn sát cánh bên nhau, đoàn kết trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Chính trong tiến trình lịch sử Dựng nước đi đôi với Giữ nước cộng đồng các thành phần tộc người Việt Nam đã tạo nên nhiều giá trị về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…mang Bản sắc, Bản lĩnh Việt Nam; tạo nên niềm tự hào dân tộc và thu hút sự quan tâm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Những truyền thống lịch sử, giá trị đó là nguồn mạch, đồng hành cùng quốc gia tạo nên sức sống, truyền thống lịch sử riêng.
Đó sự kết tinh và biểu hiện của mồ hôi, xương máu, trí tuệ, tinh thần dân tộc của ông cha trong quá khứ và là niềm tự hào chân chính của các thế hệ người Việt Nam hôm nay. Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam là một giá trị; là kết tinh trí tuệ, tâm hồn, sức sáng tạo là niềm tự hào chính đáng được hình thành và trao truyền qua nhiều thế hệ, là nhân tố cơ bản tạo nên hình ảnh quốc gia trong quá khứ và thời đại ngày nay. Khái niệm về Truyền thống lịch sử dân tộc Việt Nam Trong lịch sử hình thành và phát triển của một quốc gia cũng như trong đời sống, các chủ thể văn hoá – lịch sử trong những điều kiện, môi trường tự nhiên và xã hội cụ thể đã hình thành nên những thói quen trong tư duy, nếp nghĩ và hoạt động và những biểu hiện đó đươc truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác thì được gọi là những Truyền thống của một cộng đồng, dân tộc. Truyền thống như vậy sẽ có nhiều “kênh”, nhiều biểu hiện mang những giá trị văn hoá, xã hội, lịch 8 sử khác nhau.
Theo cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hình dung Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam như sau: Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam là những giá trị được hình thành trong tiến trình lịch sử của quốc gia, của cộng đồng các tộc người gắn với quá trình dựng nước và giữ nước; đó là những giá trị có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành và phát triển của đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền, phát triển kinh tế-xã hội, tạo dựng và giữ gìn bản sắc văn hoá…được các thế hệ người Việt Nam trân trọng, quý giá lưu truyền qua nhiều thế hệ, từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh tạo nên niềm tự hào dân tộc cũng như vị thế của quốc gia trong cộng đồng quốc tế trong lịch sử cũng như hiện nay. Như vậy nói đến Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam không chỉ có Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm mà đó là hệ giá trị truyền thống trong đó bao gồm nhiều giá trị về văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, quan hệ quốc tế; đó chính là những “tài nguyên” nhân văn - lịch sử, tạo dựng niềm tin, sức sống, tinh thần tự cường dân tộc, tạo nên tinh thần đoàn kết để vượt qua mọi khó khăn trước những thách thức của tự nhiên và xã hội để xác lập vị trí chân chính cùa mình trong lịch sử nhân loại và cộng đồng quốc tế hôm nay. Cơ sở hình thành truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam Lịch sử quốc gia - dân tộc Việt Nam từ khi ra đời tới nay là lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước luôn gắn bó, song hành với nhau. Dựng nước luôn luôn gắn chặt với giữ nước, trong đó dựng nước là yếu tố cơ bản.
Phải xây dựng được đất nước hùng mạnh về mọi mặt mới có điều kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và ngược lại, phải giữ được nước mới có điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước. Quá trình hình thành và phát triển, truyền thống lịch sử quý báu đó có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ tư tưởng và các thành quả tinh thần và vật chất của nhân dân ta. Hiện nay, dân tộc - quốc gia (nation) Việt Nam về mặt cộng đồng xã hội là cấu trúc của 54 thành phần tộc người anh em (ethnies), trong đó có một tộc người đa số (tộc người Kinh) và 53 tộc người thiểu số (ethnic minority). Truyền thống 9 lịch sử dân tộc Việt Nam là biểu hiện tập trung, thống nhất của các mối quan hệ, đoàn kết diễn ra trong những điều kiện đặc điểm lịch sử, các vấn đề hoạt động kinh tế, cư trú, văn hoá- xã hội.
Truyền thống lịch sử Việt Nam được hình thành từ những yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình vận động với nhiều thành phần. Hay nói cách khác, Truyền thống lịch sử Việt Nam không phải tự nhiên mà có, nó là sự kết tinh của những cơ sở xã hội, kinh tế, văn hoá, lịch sử…gắn với quá trình dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm: - Đặc điểm lịch sử - cơ sở có tính lâu dài và xuyên suốt tạo nên truyền thống lịch sử dân tộc. Lịch sử Việt Nam là lịch sử nhiều thành phân cư dân, tộc người sớm có mặt và là chủ nhân của những văn hoá từ thời đại đồ Đá, đồ Đồng, đồ Sắt đến các thời đại Phong kiến và sang thời đại Hồ Chí Minh hiện nay. Không nhiều quốc gia trên thế giới có các nền văn hoá khảo cổ học hình thành, phát triển liền mạch, tại chỗ như ở nước ta.
Chủ nhân của các nền văn hoá đó vừa có có mối quan hệ với nhiều quốc gia trong khu vực và là cư dân tại chỗ với nhiều tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ đa dạng. Các tộc người nước ta hiện nay là chủ thể của quốc gia có quá trình lịch sử cư trú lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam. Trong quá trình sinh tồn và phát triển, sớm gắn bó, đoàn kết gắn bó với nhau trong quá trình lao động dựng nước; sớm xây dựng một nhà nước Việt Nam thống nhất trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, văn hoá xóm làng và đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc. Cho đến nay mô hình Nhà nước – Quốc gia Việt Nam được đa số giới nghiên cứu cho rằng ra đời sớm hơn mô hình Nhà nước – Quốc gia phương Tây và một quốc gia khác.
Nếu phần lớn Nhà nước – Dân tộc ra đời thế kỷ XIII, XIV sau Công nguyên thì Nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có “luật Việt” khác luật Hán hơn mười việc”1…rồi đến Nhà nước Âu Lạc ra đời khoảng đầu thế kỳ thứ III trước Công nguyên (với 3 lý do khách quan: 1. Cấu trúc xã hội hình 1 Lời của Mã Viện tâu lên Vua Hán trong Hậu Hán thư, Xin xem Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn – Nguyễn Cảnh Minh (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1. Nxb Giáo dục, tr 46. 10 thành trong quá trình khắc phục khó khăn của tự nhiên làm thuỷ lợi để phát triển văn minh nông nghiệp; 2.
Cố kết trong cộng đồng văn hoá mang tính công xã nông thôn – văn hoá xóm, làng; 3. Cố kết, đoàn kết đấu tranh chống lại sự xâm lược của nhà Tần từ phương Bắc). Đồng thời với các hoạt động kinh tế, tạo dựng mô hình xã hội Nhà nước sớm do các điều kiện chủ quan và khách quan tác động, chủ nhân của 15 bộ lạc (Tây Âu – Lạc Việt, con cháu của “bố Rồng” (Lạc Long Quân), “mẹ Tiên” (Âu Cơ) đã sớm ý thức về một quốc gia, về chủ quyền độc lập, kiên quyết đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc và phát triển nền kinh tế nông nghiệp, củng cố và phát triển các giá trị của văn minh làng xã. Nhà nước trong buổi bình minh của lịch sử là nhà nước của nhiều cộng đồng tộc người, có bộ máy hành chính khá hoàn chỉnh, có trung tâm chính trị, văn hoá, có thành quách phòng thủ và chiến đấu kiên cố, có nền kinh tế nông nghiệp làm ruộng với hệ thống thuỷ lợi, có các làng xã với dân số khá phát triển.
2 Trong quá trình lịch sử, các tộc người thiểu số và đa số đã sớm gắn bó nhau, tạo lập nên truyền thống ĐOÀN KẾT, YÊU NƯỚC trong lao động sáng tạo và bảo vệ nền độc lập nước nhà. Qua các thời đại, từ nhà nước sơ khai đến nhà nước phong kiến độc lập và nhà nước trong thời đại Hồ Chí Minh, cộng đồng dân tộc Việt Nam đã không ngừng bồi đắp, phát huy truyền thống đó khẳng định vị trí độc lập chủ quyền và bản lĩnh, bản sắc văn hoá trong cộng quốc tế. - Đặc điểm kinh tế của nền văn minh nông nghiệp -yếu tố quan trọng tạo nên truyền thống lịch sử quốc gia trong xây dựng, phát triển đất nước. Truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia được tạo nên từ những đặc điểm về hoạt động kinh tế với những loại hình đa dạng.
Thông qua hoạt động kinh tế, con người, các cộng đồng người tạo nên những mối đồng cảm, đoàn kết chia sẻ những khó khăn, thuận lợi. Nền kinh tế nông nghiệp của các tộc người Việt Nam đã tạo 2 Theo Hán thư, Địa lý chí, vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên, cư dân Giao Chỉ, Cửu Chân có 123.850 khẩu; dẫn theo Phan Huy Lê (1990), Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, khoa Lịch sử. 11 nên những đặc trưng, giá trị trong bối cảnh tự cung tự cấp trong bối cảnh thiên nhiên nhiệt đới vùng Đông Nam Á hay còn được gọi là “tiền công nghiệp” mang giá trị của vùng miền, đồng bằng châu thổ, thung lũng, nương rẫy miền núi cao hay thuỷ sản trên sông nước, trên biển. Nếu người Kinh sinh sống ở đồng bằng, châu thổ lớn ven biển với nền kinh tế lúa nước khá phát triển thì 53 dân tộc thiểu số tình hình phát triển kinh tế rất đa dạng và không đồng đều.
Về cơ bản kinh tế của các tộc người thiểu số còn ở trình độ phát triển thấp so với trình độ phát triển chung của quốc gia, khu vực và quốc tế. Đặc điểm kinh tế các tộc người đa số và thiểu số nước ta bị chi phối quan trọng của địa bàn cư trú, hoàn cảnh địa lý và trình độ phát triển tộc người. Đặc điểm về kinh tế là một trong những đặc điểm quan trọng để nhận diện sâu sắc sự sáng tạo văn hoá và tìm hiểu bản sắc văn hoá tộc người, truyền thống lịch sử của một đất nước.