Chương 1 KHÁI QUÁT BỐI CẢNH VĂN HOÁ VÀ THƠ CÁC NHÀ NHO THẾ KỶ XIX VIẾT VỀ CHÙA PHẬT 1. Bối cảnh văn hoá xã hội Việt Nam thế kỷ XIX Thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thống nhất đất nước. Các vua Nguyễn có ý thức bắt tay vào xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế mạnh về quân sự, chặt chẽ về thể chế và quy củ, bề thế về văn hoá học thuật. Hoạt động sáng tác được đưa vào cung đình với mục đích kiểm soát, thống nhất về tư tưởng, học thuật.
Việc thi cử được củng cố và phát triển trên toàn quốc. Bên cạnh đó, bản thân các vua nhà Nguyễn, các hoàng thân quốc thích nhà Nguyễn, dù có những người không tham gia chính sự, cũng ham thích thơ văn, có tài văn học. Nhiều tác giả lớn triều Nguyễn thuộc diện này, như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Bửu, Miên Trinh, v. Kéo theo đó là đội ngũ các văn thần, sĩ tử hết sức đông đảo hưởng ứng, tranh đua, tạo nên một không khí sáng tác, thường thức chưa bao giờ sôi nổi như thế dưới triều Nguyễn.
Chính trong những hoạt động đó, nhiều vấn đề của văn chương đã được đem ra bàn bạc, thảo luận, thậm chí tranh luận gay gắt. Trong Văn bia Thần đạo bên mộ Thái sư Trương Đăng Quế, Miên Trinh đã nhắc lại không khí học thuật thời bấy giờ “tiên sinh cùng với các vị Thân tiên sinh Dụng Trung, Phan tiên sinh Lương Khê, Hà tiên sinh Tốn Phủ, Nguyễn tiên sinh Phương Đình, Phạm tiên sinh Trúc Đường xướng hoạ thơ ca, cổ văn từ phú, cùng nhau cắt gọt mài rũa, từ đó người học mới biết được Lý học đời Tống, thơ văn đời Đường”1. Bối cảnh văn hoá đó đã làm dấy lên phong trào sáng tác, sưu tầm, thưởng thức phê bình thơ văn sôi nổi. - Về phương diện tư tưởng chính trị: Sang thế kỷ XIX, Nho học và Nho giáo lại được đề cao hơn trước đó nhiều.
Minh Mệnh (1820-1840) ý thức rõ ràng Nho học, Nho giáo, Nho sĩ là chỗ dựa tư tưởng, xã hội của nhà nước. Triều Nguyễn đã ra sức chấn chỉnh chế độ giáo dục khoa cử, tổ chức khoa thi tiến sĩ, mở rộng các khoa thi cử nhân. Nhà nước đã cố gắng hết mức tăng cường và củng cố Nho giáo (Phan Đại Doãn (chủ biên), 1996, trang 56). Đồng thời để giải quyết vấn đề (1) Nguyên văn: ".與 申 先 生 用 中,潘 先 生 粱 溪,何 先 生 巽 甫, 阮 先 生 方 亭, 范 先 生 竹 堂 等 倡 詩, 古 文 辭 相 與 切 劘; 自 是 學 者 始 知 宋 之 理 學, 唐 之 詩 文/.dữ Thân tiên sinh Dụng Trung, Phan tiên sinh Lương Khê, Hà tiên sinh Tốn Phủ, Nguyễn tiên sinh Phương Đình, Phạm tiên sinh Trúc Đường đẳng xướng thi cổ văn từ tương dữ thiết my; tự thị học giả thỉ tri Tống chi Lý học, Đường chi thi văn" (Thái sư, Cần chánh điện Đại học sĩ, Quản lý Binh bộ sự vụ Tuy Thịnh Quận công Trương Đoan trai Tiên sinh Thần đạo bi minh 太 師, 勤 政 殿 大 學 士, 管 理 兵 部 事 務 綏 盛 郡 公 張 端 齋 先 生 神 道 碑 銘).
7 đặt ra trước Nho giáo, để gạt bỏ những trở ngại trên đường chữa chạy những “căn bệnh” làm Nho giáo suy yếu, tái lập quyền uy của đạo thống tam cương và lễ giáo. Theo suy luận thông thường, việc nhà nho phải phán xét lại nhiều chuyện của Nho là tất yếu, đánh giá lại Nho là không thể tránh khỏi. Nhà nho tiến hành hàng loạt các công việc cụ thể nhằm chấn chỉnh việc giáo dục và khoa cử, cải cách thể văn, chấn hưng Nho phong sĩ khí. Nho sĩ cố gắng chuyển hướng từ chỗ chỉ quan tâm tới các vấn đề xã hội với hy vọng tăng cường khả năng giải quyết các vấn đề thực tế của Nho gia.
Sang thế kỷ XIX, Nho giáo lại vươn lên mạnh mẽ hơn, như một mốc lịch sử tư tưởng, chi phối khá sâu sắc tư tưởng và cách ứng xử trong xã hội (Phan Đại Doãn (chủ biên), 1996, trang 57-58). Đó là giai đoạn mà “ý thức văn học Nho giáo là ý thức bao trùm lên tất cả, nó làm nền cho những biến đổi khác” (Đoàn Lê Giang, 2001, trang 107) ”. - Về phương diện văn hoá: Triều Nguyễn đã ban hành những quy định hết sức chi tiết, tỉ mỉ về việc xây dựng, tu bổ hệ thống đền, miếu, chùa, quán. Quyển 207, 208 bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã đề cập đến vấn đề này.
Dưới triều Nguyễn, hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều xây dựng hoặc tu bổ các thiết chế văn hoá tâm linh. Các vị vua triều Nguyễn còn chú ý tới việc cúng tế các triều đại trước như một cách khẳng định tính chính thống của triều đại mình. Nơi thờ tự của các đế vương thời trước nằm rải rác tại các địa phương được chăm sóc, tu bổ, được liệt vào điển lệ thờ của nhà nước, được cấp tiền bạc, ruộng thờ, phu miếu. Theo lệ hằng năm hay gặp những dịp đại khánh, nhà vua đều sai quan đến tế tự.
Triều Nguyễn còn đưa vào điển thờ nhà nước việc thờ cúng vua các vương quốc phương Nam xưa như Chiêm Thành, Chân Lạp. Trong hệ thống các thiết chế văn hoá tâm linh liên quan đến tôn giáo, ngôi chùa của Phật giáo được triều đình Nguyễn quan tâm hơn cả. Dòng họ Nguyễn có nhiều gắn bó với Phật giáo, vì thế, khi giành được vương quyền, tuy Nho giáo trở thành tư tưởng chính thống, nhưng các vua đầu triều Nguyễn vẫn có phần ưu ái Phật giáo và trân trọng những ngôi chùa đã gắn bó với sự nghiệp dòng họ Nguyễn. Các chùa Thiên Mụ, chùa Từ Ân (chùa mà nơi vua Gia Long tạm trú khi cho đắp thành Gia Định năm 1790), chùa Khải Tường (nơi hậu cung tá túc, vương phi họ Trần sinh hạ hoàng tử Đảm, sau này là vua Minh Mệnh) đã trở thành quốc tự, được các vua ban sắc phong, trùng tu, tặng tiền bạc nhiều lần.
Các vị sư tăng đã từng giúp đỡ Nguyễn Ánh trước đây được trả ơn. Các vị tăng cang, trụ trì thường được triều đình cho miễn thuế khoá, sưu dịch, được cấp lương hằng tháng để chi độ, cấp pháp phục. Tuy nhiên, cũng giống như thiết chế văn hoá khác, các vua đầu triều Nguyễn chú ý phát triển Phật 8 giáo cung đình, hạn chế Phật giáo trong dân gian, nơi làng xã. Các vua đầu triều Nguyễn đích thân xem xét các bản tấu, lời nghị liên quan đến việc xây dựng, tu bổ, số lượng người tu hành.
trong các chùa ở các tỉnh (Nội các triều Nguyễn, 1993, trang 213-216). Các chùa sắc tứ của nhà nước được quan tâm xây sửa, chu cấp tiền lương cho sư tăng. Nhưng mặt khác, triều đình lại hạn chế xây dựng chùa chiền ở các làng xã vì những hoạt động thờ cúng trong dân gian có ảnh hưởng đến vị trí độc tôn của Nho giáo, đi ngược lại xu hướng tập quyền của triều Nguyễn. Từ thời Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, các sinh hoạt của Phật giáo được phát triển hơn với việc mở các đại giới đàn, triều đình tổ chức các lễ đàn chay kéo dài trong nhiều ngày, nhiều sư tăng được cấp giới đao độ điệp.
Dưới thời Minh Mệnh, nhà vua tổ chức 5 lần trai đàn lớn tại chùa Thiên Mụ để cầu siêu bạt độ, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho nhà vua hoặc các bà hoàng thái hậu. Vua Minh Mệnh cũng là người mở cuộc sát hạch tăng sĩ lần đầu tiên của triều Nguyễn vào năm 1830 tại chùa Báo Quốc. Những người tinh thông về giới luật sẽ được cấp giới đao độ điệp, ai không đạt phải hoàn tục và chịu sưu dịch như dân thường. Vua Thiệu Trị khi mới lên ngôi đã hạ lệnh tổ chức tụng kinh ba ngày ba đêm tại chùa Thiên Mụ, xây tháp 7 tầng, ban sắc chỉ lập chùa Diệu Đế.
Sang năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Lý Văn Phức đi sứ nhà Thanh, mang về 50 bộ kinh Phật. Tháng 7 năm đó, triều đình mở đại trai đàn, vua Tự Đức đã ban sắc chỉ cho các chùa Thiên Mụ, Giác Hoàng, Thánh Duyên. Nhà vua cũng đã ban cấp công điền cho các chùa quán Thiên Mụ và Linh Hựu (kinh đô Huế), Khải Tường (Sài Gòn), Tam Thai và Ứng Châm (Quảng Nam). Trong số các nhà nho ở thế kỷ XIX, nhiều người đã quan tâm đến Phật giáo, như Nguyễn Đăng Giai (? - 1854) là người “tôn chuộng đạo Thích, dựng chùa thờ Phật” (Đại Nam chính biên liệt truyện, Truyện Đăng Giai) 2.
Năm 1842, Nguyễn Đăng Giai đã đứng ra quyên góp và chủ trì việc xây dựng một ngôi chùa có tên là Báo Ân với quy mô gồm 180 gian với 36 nóc trên khu đất rộng gần 100 mẫu, mặt trước trông ra sông Hồng, mặt sau dựa vào hồ Hoàn Kiếm. Năm 1888, thực dân Pháp phá huỷ để xây dựng nhà Bưu Điện, chỉ còn giữ được tháp Hoà Phong ở phía sau chùa, nay ở trên bờ hồ Hoàn Kiếm. - Về phương diện văn học: Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn xuất hiện các nhóm văn chương, các thi xã, các gia đình văn học lớn, khiến cho việc sáng tác văn chương hoạt động có tổ chức và có khí thế (2) Về việc Nguyễn Đăng Giai sùng chuộng đạo Phật cũng đã được đại thần Trương Đăng Quế xác nhận trong “Kí Sơn Hưng Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai thư” (Thư gửi Tổng đốc Sơn Tây Hưng Yên Nguyễn Đăng Giai). 9 sôi nổi tạo nên một sức bật mới và theo đó, xuất hiện tầng lớp tác giả, độc giả khác trước.
Sự xuất hiện của các thi xã, tiêu biểu nhất là Mặc Vân thi xã do hoàng tử Miên Thẩm, Miên Trinh là chủ soái cùng với nhiều hoàng tử, công chúa, quan lại triều đình, văn thân quốc thích nhà Nguyễn tham gia. Hoạt động xướng hoạ, bình thơ văn tạo ra không khí sôi nổi. Phủ của Miên Thẩm là nơi gặp gỡ, hội tụ những người hoạt động xướng hoạ văn thơ: “trong phủ không ngày nào số văn nhân đến hội họp dưới nửa trăm người. Còn ở xa gần các danh sĩ hưởng ứng theo, gửi thơ, bài xướng hoạ cũng lắm… Ngoài ra, những hạng con em ham học ở những làng xung quanh nghe tiếng thi xã tình nguyện vào học hỏi không biết bao nhiêu” (Trần Thanh Mại, 2000, trang 38).
Sự tồn tại của các thi xã, các nhóm thơ văn có đóng góp lớn cho nền thơ ca dân tộc.