mở đầu của phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời của đạo tin lành khi M.Luther công bố “Chín mươi lăm luận đề” với nội dung phê phán mạnh mẽ Giáo hoàng, giáo quyền trong trách nhiệm về những tiêu cực đã gây ra. Cuộc cải cách tôn giáo ở Đức theo tinh thần của Luther phát triển rộng khắp tác động đến hàng loạt các cuộc cải cách tôn giáo ở những quốc gia châu Âu khác như tại Thụy Sĩ dưới sự lãnh đạo của U.Zwingli từ năm 1525 và đặc biệt là cuộc cải 19 cách tôn giáo do J. Calvin lãnh đạo từ năm 1536. Cuộc cải cách tôn giáo tiếp diễn tại nước Anh và nhanh chóng phát triển thành phong trào chính trị, tôn giáo có ảnh hưởng rộng lớn… Từ nửa cuối thế kỷ XV trở đi ứng dụng những phát minh mới trong lĩnh vực hàng hải, những con đường hàng hải mới những phát kiến lớn về địa lý đã được khám phá, thị trường được mở rộng.
Giai cấp tư sản càng đẩy nhanh quá trình tích luỹ tư bản thì yêu cầu giở bỏ những rào cản cũng đặt ra, vấn đề vốn và sức lao động bị giáo hội Công giáo và chế độ phong kiến kìm hãm cần phải được giải quyết. Về mặt xã hội giai cấp tư sản và tầng lớp thị dân đòi hỏi thiết lập một trật tự xã hội mới đảm bảo những quyền lợi của giai cấp tư sản tức đòi hỏi một “Chính phủ rẻ tiền” thay thế cho những thiết chế phong kiến đã quá lỗi thời. Về mặt văn hoá giai cấp tư sản mong muốn xây dựng một nền văn hoá nhân bản thế chỗ cho nền văn hoá thần học xây quanh vòng hào quang của giáo hội và Thượng đế. Chủ nghĩa lý trí với sự nhấn mạnh đến kiến thức, thần thánh và nền tảng lý luận nhân bản, triết lý xã hội thù địch với những kinh nghiệm siêu nhiên, những lý thuyết phi thánh kinh phát xuất từ những phát kiến khoa học đã có chỗ trong giai cấp tư sản và họ cần một tôn giáo hiện đại, “giáo hội rẻ tiền” gắn với nghĩa vụ tự nguyện, lễ nghi đơn giản phù hợp với những quan điểm và lợi ích của giai cấp tư sản và tầng lớp thị dân.
Tác động của Văn hoá phục hưng đối với giai cấp tư sản thực sự là cuộc cách mạng văn hoá, tư tưởng đầu tiên khai phóng cho con người về mọi mặt trong đó có yếu tố tôn giáo, và là một trong những nhân tố đảm bảo cho cuộc cải cách tôn giáo thành công để hình thành đạo Tin lành vào thế kỷ XVI. Về tên gọi Tin lành Ra đời từ cuộc cải cách tôn giáo thế kỷ XVI, các tôn giáo mới tách ra bị Công giáo ( Catholism) gọi chung là các hội phản bội lời thề nên gọi tên là các hội Thệ Phản (Protestantism). Các nhà nghiên cứu giáo sử gọi họ là các hội Cải cách (Reformism). Bản thân Các hội cải cách tự gọi mình với tên Evangelism tức các hội Tin lành.
Thuật ngữ này xuất phát từ Kinh thánh. Cho đến năm 1926 tại Việt Nam đã tồn tại hai bản Kinh thánh của cả Công giáo và Tin lành. Kinh thánh của Công 20 giáo do Cố chính Linh dịch, do tính chất của tổ chức mà Kinh thánh này rất ít được phổ biến. Vào Việt Nam muộn hơn do nhu cầu dịch thuật Kinh thánh các giáo sĩ trong Hội truyền giáo Phước âm liên hiệp cộng tác với các học giả Trần Văn Dõng, Phan Khôi ( người sau này khởi xướng “ phong trào thơ mới”) đã tiếp xúc với bản dịch này của Cố Chính Linh, dịch ra bốn sách Tin Lành và sử dụng rộng rãi các sách này trong quá trình truyền đạo, sinh hoạt đạo.
Khi được người dân hỏi đạo mới mà các giáo sĩ truyền bá có tên gọi là gì thì được trả lời là đạo Tin lành. Trả lời như vậy cũng nhằm tránh các tên gọi mà họ gọi đạo mới của các giáo sĩ ngoại quốc với tên gọi không thân thiện như đạo Mĩ, đạo rối, đạo bỏ ông bỏ bà…Về sau tên gọi đạoTin lành đã được quen gọi và phổ biến tại Việt Nam. Đối với các tôn giáo ra đời từ cuộc cải cách tôn giáo, họ đều nhấn mạnh đến sự chân chính duy nhất của họ đối với đạo do Chúa Giê-xu sáng lập với tên Christianity hay tên Christianisme bởi vậy tín đồ Tin lành tại Việt Nam gọi tôn giáo mình là Cơ Đốc giáo, xưng mình là Cơ Đốc nhân. Thế Giới Quan Của Đạo Tin Lành 1.
Kinh thánh của đạo Tin lành Kinh thánh là vấn đề then chốt của đạo Tin lành, Kinh thánh được tin là lời của Đức Chúa Trời; giải thích về sự sáng tạo trời đất và con người, sự sống của con người trên đất, thế giới bên kia sau khi chết …Vì được tin là lời của Đức Chúa Trời nên mọi hoạt động của cá nhân và giáo hội Tin Lành đều xây quanh vấn đề Kinh thánh. Thông thường để cho những ghi chép tôn giáo có giá trị linh thiêng các tác giả công bố những điều mình trước tác là do sự hướng dẫn của các Đấng thần linh. Đạo Tin lành cho rằng: “ Toàn thể thánh kinh đều do Thượng Đế soi dẫn” [96, tr. Ngoài ra còn căn cứ vào sự khẳng định của Đức Giê Xu về Kinh thánh, Ngài đã trưng dẫn Kinh thánh như là một thẩm quyền tối hậu, thường giới thiệu lời tuyên bố với câu “ Có lời chép rằng”, hoặc “ Ta đến không phải để phá bỏ mà là làm cho trọn” chính trong Kinh thánh cũng sử dụng từ “ Lời của Đức Chúa trời” 394 lần trong Cựu ước chưa kể những cụm từ có ý nghĩa tương đương.
Ngoài ra Kinh Tân ước cũng thường trích dẫn bên phần Kinh Cựu ước và khẳng định Kinh thánh là lời 21 của Đức Chúa Trời “ Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn”[80, 225] để nói về chính nó. Kinh thánh Cựu ước Cựu ước là những tập sách được xếp theo thể loại sách văn thơ, sách lịch sử, sách tiên tri có nội dung về công cuộc sáng tạo thế giới vật chất, tạo dựng con người, tội lỗi của con người khi bất tuân mạng lệnh của Thượng Đế. Chương trình cứu chuộc con người của Thượng đế thông qua “tuyển dân” Do Thái… Có sự khác biệt giữa đạo Công giáo, Tin lành giáo về số sách đã được thừa nhận trong Kinh Cựu ước. Tin lành giáo thừa nhận có 39 sách cấu thành nên Kinh Cựu ước.
Đạo Công giáo công nhận 46 sách. Những sách mà đạo Công giáo thêm vào Tin lành giáo gọi là những sách ngụy kinh (Apocryphal) gồm các sách: Tô-bi-a, Giu-đi-ta, I Ma-ka-bê, II Ma-ka-bê, Khôn ngoan, Huấn ca, Ba- rúc. Một trong số những lý do mà Tin Lành giáo cho rằng các sách trên là ngụy kinh là vì chính Chúa Giê xu và các tác giả Tân ước không hề trưng dẫn một câu nào của chúng. Hội Tin Lành đầu tiên cũng không hề nhìn nhận những sách trên có thẩm quyền như là kinh điển, ngay cả Do Thái giáo cũng không thừa nhận các sách đó là một phần của kinh điển Hê-bơ-rơ.
Tuy nhiên Tin Lành giáo không cấm đoán giáo dân của mình về việc đọc các sách ngụy kinh trên, mà vẫn xem các sách này như là những sách có giá trị nhất định về mặt lịch sử, trong vấn đề giáo dục lối sống đạo đức, hoặc dưới dạng một văn phẩm thuần tuý. Kinh thánh Tân ước Tân ước là tổng hợp các sách tập trung đề cập đến một chủ đề chính xuyên suốt từ đầu sách cho đến cuối sách về cuộc đời và sự nghiệp của Chúa cứu thế Giê- xu, về sự giáng trần làm người, công bố đạo, chịu chết chuộc tội cho loài người, sự sống lại, về trời cùng với những lời răn dạy về những lẽ đạo của Chúa Giê- xu cũng như của các môn đồ đối với con người, về tương lai mai sau của con người. Kinh Tân ước có 27 sách được phân chia làm bốn loại gồm: Bốn sách phúc âm, sách lịch sử, các thư tín và sách tiên tri. 22 Quá trình thu thập Kinh Tân ước tương đối dài từ thế kỷ thứ I cho đến thế kỷ thứ IV mới hoàn thành gồm 27 sách và đã được các công đồng năm 381, công đồng Florence (1431-1439), công đồng Trente (1545-1563) khẳng định là kinh điển “Có thẩm quyền của Đức Chúa Trời”.
Ngoài ra có rất nhiều sách khác đã bị liệt vào “ Những nguỵ Kinh Tân ước” không được phép sử dụng. Các sách này cũng lấy tên các sứ đồ để độc giả tin tưởng về những nội dung mà sách đang đề cập như sách công vụ của Phi-e-rơ, công vụ của Giăng, công vụ của Thô-ma, sách khải huyền của Phi-e-rơ, Tin lành của Thô-ma, Tin lành Ả-rập về tuổi thơ ấu,Tin lành của Giô-sép, Mari sanh ra, Mari biến hoá…nhìn chung các sách này viết nhằm mục đích bổ sung vào khoảng trống trong truyện tích của Chúa Giê-xu trong Tân ước chủ yếu vào giai đoạn niên thiếu, và những sách viết để biện hộ cho giáo lý và hệ phái. Bản văn đầu tiên của Kinh cựu ước viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ trên những mảnh gốm. Sau này tại khu vực Biển Chết các nhà nghiên cứu Kinh thánh đã phát hiện ra các bản kinh thánh cựu ước được ghi trên những cuộn da (Dead Sea Scrolls) so với các bản khác đã được phát hiện trước đó thì bản này có niên đại lâu nhất cách nay 1800 năm [139, tr.] Kinh Tân ước được viết bằng tiếng Hy Lạp, các bản thảo nguyên gốc của Tân ước đều thất lạc, các bản được lưu truyền thì được sao chép cẩn thận.
Vật liệu dùng để viết là giấy chỉ thảo( papyrus) được làm từ một loại cây mọc dưới nước. Cho đến thế kỷ 4 S., giấy da bò non thay thế cho giấy chỉ thảo. Hầu hết các bản sao kinh thánh cổ được tìm thấy đều bằng giấy da bò non số ít còn lại viết trên giấy chỉ thảo được phát hiện tại Ai cập. Hiện nay ba bản thảo được xem là có giá trị và lâu đời nhất cho toàn bộ kinh thánh là bản Sinaitique, bản Vatican và bản A-lec-xăn-đơ-ri hiện các bản này được lưu tại các thư viện Saint Petersbourg, thư viện Vatican, bảo tàng Anh quốc.
Kinh Cựu ước và Tân ước đang được sử dụng rộng rãi trong các hội thánh Tin Lành ở Việt Nam đã được dịch từ bản King James bản viết bằng Anh ngữ cổ của thế kỷ XVI. So với bản gốc bằng tiếng Hê-bơ-rơ( Cựu ước), Hy-lạp ( Tân ước) thì khi chuyển sang bản Việt ngữ đã phải nhảy qua ba bước. Trong điều kiện của chiến tranh Việt Nam, các giáo sĩ thuộc Hội phúc âm liên hiệp khi sang truyền giáo tại 23 Việt Nam chủ yếụ là những người sử dụng tiếng Anh và Mĩ.