Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về tôn giáo. Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÔN GIÁO 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến luận văn 1. Khái niệm Theo quan điểm của các nhà triết học duy tâm thì, tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội, đã ra đời và vẫn có cơ sở để phát triển trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ cho đến tận bây giờ. Còn một số nhà duy vật lại có quan điểm khác, trong tác phẩm Chống Duyhrinh, Ăngghen đã đưa ra những nhận định quan niệm tôn giáo “Mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng bên ngoài chi phối đời sống hàng ngày của họ, chẳng qua chỉ là sự phản ánh trong đó lực lượng ở trần thế đã mang hình thức siêu trần thế” [20, tr.
Tôn giáo là sản phẩm của con người, con người tạo ra tôn giáo để thỏa mãn nhu cầu về đức tin- niềm tin tôn giáo, khi mà họ rơi vào trạng thái bất lực, bế tắc. Tôn giáo đem lại cho họ niềm vui tinh thần theo kiểu “đền bù hư ảo”.Marx viết “sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [20, tr.
Từ góc độ của khoa học QLNN, chúng ta có thể định nghĩa tôn giáo có tổ chức như sau: Tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một tập thể người có chung một niềm tin theo một giáo chủ hoặc một giáo lý và có một cấu trúc nhất định thường gọi là giáo hội hay hội thánh. Bản chất của tôn giáo Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một cách nhận thức về thế giới nhưng đó là cách nhận thức hoang đường, hư ảo, trên cơ sở đức tin tôn giáo. Tôn giáo chia thế giới thành hai phần và cho rằng thế giới hiện thực đầy rẫy những đau khổ, bất hạnh, còn thế giới thần linh là thế giới của lòng nhân ái, yêu thương và cưu mang con người. Là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh hoang đường hiện thực khách quan, lấy cái thứ yếu để thay thế cho cái chủ yếu, lấy cái ít phổ biến để thay thế cho cái phổ biến.
Tôn giáo là sản phẩm của con người Con người tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo tạo ra con người. Tôn giáo do con người tạo ra để thỏa mãn nhu cầu về đức tin tôn giáo, để xoa dịu nỗi đau của con người trước những bất hạnh trong cuộc sống. Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới.
Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược. Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là logic dưới hình thức phổ cập của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo là một hình thức nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người Nếu như Triết học ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người về nhận thức quy luật chung của thế giới, Đạo đức học thỏa mãn nhu cầu về cách đối nhân xử thế, Thẩm mĩ học thỏa mãn nhu cầu chân-thiện-mĩ thì tôn giáo thỏa mãn nhu cầu về “niềm tin - đức tin” tôn giáo.
9 Tôn giáo xoa dịu nỗi đau của con người bằng thứ thuốc an thần và bù đắp sự thiếu hụt của hiện thực bằng hư ảo. Thông qua đó, tôn giáo làm cho con người cảm thấy được an ủi, được rũ bỏ những gì gọi là khổ hạnh nơi trần thế, tìm kiếm cho mình những niềm vui tinh thần hư ảo. Đến với tôn giáo, con người cảm thấy mình được gần gũi với đấng thiêng liêng, giải tỏa được những phiền muộn trong cuộc sống hằng ngày của họ. Họ cảm thấy được chở che, được bao dung, được dẫn dắt và họ thấy rằng tinh thần được siêu thoát.
Nguồn gốc hình thành tôn giáo Nguồn gốc kinh tế-xã hội Trong xã hội cộng sản nguyên thủy do trình độ của lực lượng sản xuất và điều kiện sinh hoạt vật chất còn thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối, bất lực trước tự nhiên. Về sau, bên cạnh những sức mạnh tự nhiên lại xuất hiện những sức mạnh xã hội. Khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình thành, đối kháng giai cấp nảy sinh. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp và con người ngày càng chịu tác động của nhiều yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi, bất ngờ với những hậu quả khó lường nằm ngoài ý muốn và khả năng điều chỉnh của mình.
Một lần nữa, con người lại bị động, bất lực trước lực lượng tự phát nảy sinh trong lòng xã hội. Sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của những bất công xã hội cùng với những thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranh của giai cấp bị trị - đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo Ở một giai đoạn lịch sử nhất định thì sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Chức năng của khoa học là tìm hiểu, khám phá ra những điều mà nhân loại chưa biết, vận dụng các tri thức đã biết để tiếp tục nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con 10 người ngày một tiến bộ hơn.
Song ở thời kỳ lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì điều đó chỉ được giải thích một cách hư ảo qua các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh nhưng trình độ dân trí thấp kém vẫn là mảnh đất màu mỡ cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo Theo các nhà vô thần cổ đại thì “sợ hãi sinh ra thần linh Lênin viết: “Sự sợ hãi trước những thế lực mù quáng của tư bản, mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại” [52, tr. Thế giới hiện đại càng diễn ra những cuộc vật lộn, chà sát, bon chen.
đôi khi còn bất chấp cả đạo lý, bỏ qua nghĩa tình thì con người càng có nhu cầu đến với tôn giáo. Ở đấy, người ta cảm thấy phần nào rũ bỏ được những bụi bặm của cuộc sống trần tục để tiếp cận với thế giới xa lạ, huyền ảo nhưng thanh cao và đầy hấp dẫn. Tôn giáo còn làm giảm bớt nỗi lo sợ của con người trước bệnh tật và cái chết. Nguyện vọng chung của con người là kéo dài sự sống, không ở kiếp này thì ở kiếp sau.
Người ta không muốn kết thúc sự tồn tại của mình bằng cái chết thể xác. Đáp ứng tâm lý ấy, các tôn giáo đã chỉ ra một thế giới huy hoàng, đẹp đẽ, thánh thiện và vĩnh hằng sau cái chết. Chính điều này đã giúp con người chấp nhận cái chết thể xác một cách nhẹ nhàng, thanh thản hơn. Thực ra, không chỉ có những tình cảm tiêu cực như sự sợ hãi, thất 11 vọng, bất lực mới hình thành và nuôi dưỡng niềm tin tôn giáo, mà ngay cả những tình cảm tích cực như sự thỏa mãn, lòng kính trọng, biết ơn, kể cả những ước vọng vươn tới chân, thiện, mĩ cũng khuyến khích người ta tìm đến tôn giáo.
Vai trò của tôn giáo - Mặt tích cực của tôn giáo Tôn giáo xoa dịu nổi đau của con người khi con người rơi vào đau khổ, bất hạnh. Đức tin tôn giáo giúp con người có thêm nghị lực để sống cho dù đó chỉ là “sự đền bù hư ảo”. Con người hướng đến đấng siêu nhiên, tuyệt đối hóa các đối tượng tín ngưỡng, tin tưởng và cầu mong được đấng thần linh cứu cánh. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.
Tôn giáo đề cao tinh thần nhân ái, yêu thương con người, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn, hướng con người đến “chân-thiện-mĩ”, như Hồ Chủ tịch từng nói: Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với đất nước ta.
Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay còn sống trên đời, nếu họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ chung sống với nhau rất hoàn mĩ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy [50, tr. Một số sản phẩm tôn giáo là những công trình văn hóa có giá trị của nhân loại và đất nước.
Nhiều công trình như đền thờ, kinh sách, nơi thờ tự của các tôn giáo trên thế giới là di sản văn hóa thế giới, kể cả hoạt động sinh hoạt tôn giáo như lễ Phật Đản của Phật giáo, ở nước ta, nhiều đền chùa, nhà 12 thờ là những công trình có giá trị văn hóa nghệ thuật cao.