mở đầu cho bước ngoặt phát triển nhận thức về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nghị quyết này có hai luận điểm căn bản có tính đột phát là “ Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu câu tinh than của một bộ phận nhân dân ”, “ Tôn giáo có những giá trị dao đức văn hoá phù hop”. “4 Báo điện tử Dang cộng sản Việt Nam - Hệ thống tư liệu — Văn kiện ( thứ tư ngày 22/02/201 17 Đến văn kiện Đại hội XI, Dang lại tiếp tục khang định: “ Tôn trong và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tư do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổ hại đến lợi ich của nhân dân ”'° Điều đáng lưu ý là, nếu trọng văn kiện đại hội X, Dang coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của công dân thì trong văn kiện Đại hội XI, quyền tự do tín ngưỡng được coi là quyền của nhân dân.
Van đề không đơn thuần là sự thay đổi từ ngữ mà là sự nhận thức của Đảng về nội hàm của quyền tự do tín ngưỡng, từ quyền của công dân được khái quát thành quyền của nhân dân, tức là bao gồm tất cả mọi người sinh sống, lao động học tập và cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là một sự thay đôi, một bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng và Nhà nước về quyền tự đo tín ngưỡng, tôn giáo. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền của con người. Quyền con người là quyền tự nhiên, vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ.
Trong Văn kiện Đại hội XII của Dang, mặc dù không thay nhac dén cum tir “ Moi người có quyền tự đo tín ngưỡng, tôn giáo ” hay cụm từ “ tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người ” nhưng trong Báo cáo kết quả thục hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 — 2015 và phương hướng phát 'S Đảng cộng san Việt Nam ( 2003 ) Văn kiện hội nghị lần thứ VII , Ban chấp hành trung ương khoá IX, Về công tác tôn giáo, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tr 51,52 '* Đảng cộng sản Việt Nam , Văn kiện hội nghị lần thứ VII , Ban chấp hành trung ương khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tr 51,52 18 triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 — 2020, Dang khang định “ Tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo ”!”. Tiếp theo trong phần phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 — 2020, Đảng tiếp tục nhấn mạnh” Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo và đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo”'3. Điều đó khang định quan điểm nhất quán của Đảng về tôn trọng và bảo đảm quyên tự do tín ngưỡng, tôn giáo vốn được xác lập ngay từ ngày đầu thành lập.3 Mục tiêu, nguyên tắc, chủ đề, nội dung, phương pháp của công tác quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Nhiệm vụ QLNN về tín ngưỡng, tôn giáo gồm: Ban hành theo thâm quyền hoặc chủ trì, phối hợp với các ban ngành của các tô chức chính trị - xã hội và các tô chức khác liên quan trong việc tham mưu trình cấp có thâm quyền ban hành và tô chức thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo và công tác quản lý ! Đảng Cộng sản Việt Nam, Sdd tr. '8 Đảng Cộng san Việt Nam, Sdd tr.
304 ' Đảng Cộng sản Việt Nam, Sdd tr. nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn về công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo đối với các ngành, các cấp liên quan và các địa phương; theo thâm quyền các cấp tiếp nhận, giải quyết các nhu cầu tôn giáo và hướng dẫn các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện các chương trình phối hợp với các ngành trong việc tuyên truyền vận động. Như vậy công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo là công tác của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Phương thức QLNN về tín ngưỡng, tôn giáo: Quản lý bằng Pháp luật, bằng chính sách tôn giáo, hệ thong tô chức bộ máy; thanh tra, kiểm tra và tổng kết đánh giá.
Nội dung, nhiệm vụ và phương thức của công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Về nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được thé hiện cụ thé trong Luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016: theo Điều 60 Luật tín ngưỡng, tôn giáo thì công tác Quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn Đó là những nội dung cơ bản thống nhất từ trung ương đến địa phương 19 trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Khang định trách nhiệm quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại Điều 61 - Luật Tín ngưỡng , tôn giáo 2016. Một số van đề thực tiễn đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo 1.1 Địa kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội địa bàn tỉnh Hải Dương * Địa kinh tế tỉnh Hải Dương Hải Dương là vùng đất được hình thành từ thời đồ đá.
Cùng với những biến thiên, thăng tram của lịch sử, vùng đất này cũng có những thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính. Thời Hùng Vương, Hải Dương thuộc bộ Dương Tuyên, thời Bắc thuộc lần lượt thuộc Tượng Quận, quận Giao Chi, tran Hải Môn sau đôi thành Hồng Châu. Thời Dinh — Tiền Lê (968-1009) thuộc đất Hồng Châu. Đến triều Lý, lúc đầu là Hồng Lộ, sau đổi là Hải Đông Lộ.
Thời Tran, Hồ cũng gọi là Hải Đông Lộ. Thời Lê Sơ gọi là Đông Đạo. Năm Quang Thuận thứ 10 (tức năm 1469) gọi là Thừa tuyên Hải Dương. Năm 1831, tinh Hải Dương chính thức được thành lập (lúc này còn có tên gọi là tỉnh Đông).
Năm 1968, tỉnh Hải Dương sáp nhập với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, đến năm 1997 lại tách riêng với tên gọi Hải Dương ”. Hải Dương ngày nay nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, tọa độ địa ly từ 20241 10” đến 211420” vĩ độ bắc, từ 106°07 20 đến 106°36 35” kinh độ Đông. 0 Tinh ủy, HĐND, UBND tinh Hải Dương (2008), Dia chí Hai Dương (tập 1), Nxb Sự thật, Ha Nội.Tr 4 - 6 20 Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông Nam giáp thành phố Hải Phòng, phía Tây va Tây nam giáp tinh Hưng Yên, phía Tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh. Diện tích đất tự nhiên 1.651,85 km”, trong đó đất đồng bằng 1.389, 00 km”, chiếm gần 84,09%; đất miền núi 262,85 km”, chiếm khoảng 15,91% “'.Năm 2021, Hai Dương là đơn vị hành chính đông thứ 8 về số dân với 1.774 ngườ, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,5%.700 tỉ đồng (tương ứng với 6,480 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 77 triệu đồng (tương ứng với 3.
Hải Dương thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương (hiện là đô thị loại I), cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 45 km về phía Tây. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2015/ND - CP ngày 04/04/2014, quy định tô chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phó trực thuộc Trung ương, dự kiến giai đoạn 2023-2025, tỉnh Hải Dương có 10 huyện, thị xã phải thực hiện sắp xếp 60 đơn vị hành chính cấp xã. Trong đó, 37 xã thuộc diện phải sáp nhập, 23 xã liên quan liền kề.
Tính đến ngày 31/8/2023, các sở, ngành đã hoàn thành việc ban hành hướng dẫn thực hiện các nội dung liên quan đến sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã thuộc lĩnh vực của mình, bảm đảm theo kế hoạch của UBND tỉnh. Năm 2020 Tinh Hải Duong có 1. Day cũng là tỉnh đông dân nhất Bắc Bộ (nếu không tính Hà Nội và Hải Phòng — 2 thành phố trực thuộc Trung ương). Thành phần dân số: Nông thôn: 65,8%; Thành thị: 34,2%.
Hiện nay, tỉnh Hải Dương có 03 tôn giáo được Nhà nước công nhận về mặt tổ chức đó là: Đạo Phật, đạo Công Giáo và dao Tin Lành; toàn tỉnh có 1.163 cơ sở thờ tự (bao gồm cả 25 cơ sở tôn giáo chưa xác nhận là cơ sở tôn giáo hợp pháp); 620 chức sắc, nhà tu hành và 218.939 tín đồ (chiếm trên 11% dân số toàn tỉnh), cụ thé: Phật Giáo: 1.032 chùa; 534 tăng, ni, trong đó có 40 chức sắc và 351 chức ?! Tinh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hải Dương (2008), Dia chí Hai Dương (tập 1), Nxb Sự thật, Hà Nội.Tr 4 21 việc (gồm sư trụ trì và thành viên Ban Trị sự Phật Giáo cấp tỉnh, cấp huyện); 143 nhà tu hành; 176.090 phật tử; Đạo Công Giáo: 41 giáo xứ (40 giáo xứ thuộc Giáo phận Hải Phòng; 01 giáo xứ thuộc Giáo phận Bắc Ninh); 81 giáo họ;129 nhà thờ, nhà nguyện, tu viện; 34 Linh mục chính xứ; 52 nữ tu; 489 chức việc và 41. Dao Tin Lành: Hội thánh Tin Lành Hải Duong (CMA) có 01 nha thờ, 01 nhà nguyện, có 01 Mục sư va Ban Chấp sự gom 09 thanh vién va 1.709 tin hữu; 01 Mục su nhiệm chức thuộc Giáo hội Baptit Viét Nam; 01 nhom tín đồ Tin lành người Han Quốc gồm 18 người được UBND tinh chấp thuận cho sinh hoạt tai nha thờ Tin Lành Hải Dương. Ngoài ra trên địa ban tỉnh còn có 28 điểm nhóm Tin lành thuộc 11 hệ phái, có 06/28 điểm nhóm Tin lành đã được UBND cấp xã chấp thuận đăng ký sinh hoạt tập trung, 22/28 điểm nhóm chưa đăng ký sinh hoạt. Là một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có nhiều trục giao thông quốc gia quan trọng chạy qua như: đường 5, đường 18, đường 183.
thuận lợi cho việc giao lưu, trao đôi với bên ngoài. Thành phó Hải Dương là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học — kỹ thuật của tỉnh, nằm trên trục quốc lộ số 5, cách Hải Phòng 45 km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Tây. Phía Bắc của tỉnh có hơn 20 km quốc lộ số 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra biển qua cảng Cái Lân (Quảng Ninh). Đường sắt Hà Nội — Hải Phòng, Kép, Bãi Cháy đi qua.
Hải Dương là cầu nối giữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc ra các cảng biển.