CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 1. Khái quát quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk 1. Những khái niệm liên quan đến luận văn 1. Tín ngưỡng Tín ngưỡng có thể hiểu là: tín là niềm tin, ngưỡng là sự ngưỡng vọng.
Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người. Như vậy, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành. Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được. Theo giáo trình Quản lý nhà nước về tôn giáo và dân tộc của Học viện Hành chính quốc gia thì: “Tín ngưỡng (tiếng Pháp-Croyance; tiếng Anh- Belief) đồng nghĩa với niềm tin, sự tin tưởng, nhưng tín ngưỡng không phải là niềm tin nói chung, mà nó là niềm tin đặc biệt.
Tín ngưỡng là gốc của tôn giáo.16] Theo Luật tín ngưỡng Tôn giáo: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”. [28] “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [40, tr.17] 18 Luan van “Cơ sở tín ngưỡng, là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác”. Mê tín, dị đoan Khi nói đến mê tín, dị đoan người ta thường nghĩ đến những điều mơ hồ, nhảm nhí, không phù hợp với lẽ tự nhiên như: bói toán, phù phép chữa bệnh… không những không có lợi ích cho cá nhân, cộng đồng mà còn gây không ít những hậu quả đáng tiếc ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm thần và đôi khi là cả tính mạng con người. Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về tôn giáo và dân tộc của Khoa Quản lý nhà nước về xã hội thuộc Học viện Hành chính quốc gia: “Mê tín, dị đoan là hai khái niệm thường được dùng cặp đôi trong Tiếng Việt, để chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, đồng cốt, gọi hồn, những điểm lạ… và coi đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội.
Tôn giáo Tôn giáo là hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện cách đây hàng ngàn năm và sẽ đồng hành cùng với xã hội loài người trong một khoảng thời gian khó đoán định. Tôn giáo được hình thành và phát triển trong các cộng đồng dân tộc khác nhau; vì thế, tôn giáo rất đa dạng và phong phú; tùy cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ có các quan niệm khác nhau về tôn giáo. Theo quan điểm của các nhà triết học duy tâm thì, tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội, đã ra đời và vẫn có cơ sở để phát triển trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ cho đến tận bây giờ. Còn một số nhà duy vật lại có quan điểm khác về tôn giáo.
Trong tác phẩm Chống Đuy-rinh, Ph.Ăng-ghen đã nêu một cách khái quát quan điểm về bản 19 Luan van chất tôn giáo: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [40, tr. 251] Quan niệm của C. Ăngghen (1820-1895) cho rằng tôn giáo là rất đa dạng, được phân biệt tùy thuộc vào các nguyên tắc và các phương pháp xuất phát điểm. Hai ông đã nêu đặc trưng tôn giáo dựa trên quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người và cho rằng tôn giáo không có lịch sử riêng của mình, không có bản chất đặc biệt và nội dung đặc biệt nằm ngoài thế giới.
Tôn giáo phát triển trong bối cảnh lịch sử xã hội; sự tiến hóa của tôn giáo diễn ra tùy thuộc vào sự phát triển của sản xuất xã hội, của hệ thống quan hệ xã hội. Trong tôn giáo, con người biến thế giới kinh nghiệm của mình thành một bản chất tưởng tượng, đứng đối lập với nó như một vật xa lạ. Mác viết: “… tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để lại để mất bản thân mình một lần nữa”. Lênin bổ sung “Tôn giáo là thứ rượu tinh thần làm cho những người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người và quên hết những điều họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người”.
Tiếp cận từ góc độ pháp lý, tại Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 giải thích: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. [28] Nguồn gốc hình thành tôn giáo - Về nguồn gốc kinh tế - xã hội Trong xã hội cộng sản nguyên thủy do trình độ của lực lượng sản xuất 20 Luan van và điều kiện sinh hoạt vật chất còn thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên. Vì vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thủy con người đã gắn cho thiên nhiên những sức mạnh siêu nhiên. Khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình thành, đối kháng giai cấp nảy sinh.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp và con người càng chịu tác động của nhiều yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi, bất ngờ… với những hậu quả khó lường nằm ngoài ý muốn và khả năng của mình. Một lần nữa, con người lại tìm đến tôn giáo. Chính sự sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của những bất công xã hội, cùng với những thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị - là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo. - Nguồn gốc nhận thức Các nhà duy vật trước C.
Mác thường nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin lại quan tâm trước hết đến nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo. Chính vì vậy mà học thuyết duy vật của C.Mác đã vượt lên trên các nhà duy vật đương thời, không những không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làm sáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó. Ở một giai đoạn lịch sử nhất định thì sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Chức năng của khoa học là tìm hiểu, khám phá ra những điều mà nhân loại chưa biết, vận dụng các tri thức đã biết để tiếp tục nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người ngày một tiến bộ hơn.
Song ở thời kỳ lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì điều đó chỉ được giải thích một cách hư ảo qua các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh nhưng trình độ dân trí thấp kém vẫn là mảnh đất màu mỡ cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. 21 Luan van Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan, đó là quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn. Nhận thức của con người là một quá trình thống nhất giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan của nhận thức.
Một mặt, hình thức phản ánh càng đa dạng phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức đầy đủ, sâu sắc thế giới khách quan bấy nhiêu. Mặt khác, do đặc điểm của quá trình nhận thức từ cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán đến suy lý không chỉ tạo ra khả năng nhận thức đầy đủ thế giới mà còn có khả năng phản ánh sai lầm và xa rời hiện thực. Tính phức tạp của quá trình nhận thức đã tạo ra khả năng xuất hiện các quan niệm sai lầm mang tính hư ảo của tôn giáo. - Nguồn gốc tâm lý tình cảm Yếu tố tâm lý, tình cảm của con người là một trong những nguồn gốc ra đời của tôn giáo.
Lê nin cho rằng: Sợ hãi trước những thế lực mù quáng của tư bản, mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại.30,31] Nhưng không phải chỉ có sự sợ hãi trước sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội mới dẫn con người đến nhờ cậy thần linh, mà ngay cả những tình cảm tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng, tình yêu thương… trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người cũng được thể hiện qua các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi vậy, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa 22 Luan van trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ. Bản chất của tôn giáo - Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một cách nhận thức về thế giới nhưng đó là cách nhận thức hoang đường, hư ảo, trên cơ sở đức tin tôn giáo.