Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Khái niệm về tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Khái niệm về tôn giáo Tôn giáo: (Tiếng Latinh - Religio) đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo, đối tượng được sùng bái.
Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh [25, tr. Theo tác giả Nguyễn Bá Dương (2017) cho rằng: “Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức tôn giáo, hoạt động tôn giáo và tổ chức tôn giáo, mà sự tồn tại, phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người” [12, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học (2012) thì: “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ. Tôn giáo nảy sinh từ rất sớm, từ trong xã hội nguyên thủy.
Tôn giáo là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. Ở Việt Nam có nhiều tôn giáo: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, v. Cần khẳng định một luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” [36, tr. Ăngghen cũng viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người, của những lực 9 lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [37, tr.
Hiện nay, ở phương Tây, nhiều nhà khoa học về tôn giáo coi trọng luận điểm của C. Mác cho rằng, tôn giáo vừa là sự phản ánh, vừa là sự phản kháng thế giới hiện thực. Tôn giáo mang tính xã hội. Có thể xem tôn giáo là một phạm trù thuộc đời sống tinh thần của con người, nó phản ánh những điều con người cảm nhận một cách hoang tưởng, siêu lý từ xã hội và tự nhiên mà họ đang sống, theo cách suy nghĩ của nền văn hóa đang chi phối họ.
Tôn giáo là một sản phẩm của con người - xã hội, rồi lại chi phối đời sống của con người, của xã hội. Dưới góc độ pháp lý, tôn giáo được hiểu là “niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức” (Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016). Dưới góc độ tiếp cận của QLNN, tôn giáo là đối tượng của quản lý nhà nước. Trong QLNN về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo cá nhân và tôn giáo có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức, khái niệm tôn giáo có tổ chức được hiểu như sau: “tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội” [25, tr.
Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [26, tr. Theo đó, QLNN về tôn giáo là một dạng quản lý xã 10 hội đặc biệt của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách tôn giáo để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên lĩnh vực của đời sống về tôn giáo do các cơ quan nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. QLNN về tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật [25, tr. QLNN về tôn giáo là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự quản lý nhà nước đối với tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân, hướng các tôn giáo vào các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo (Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016). Như vậy, có thể hiểu QLNN về tôn giáo là quá trình quản lý bảo đảm việc chấp hành pháp luật về tổ chức hoạt động của các tổ chức cơ sở tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật như việc giảng đạo, hành đạo, nghi lễ tôn giáo,v. Đặc điểm của quản lý nhà nước về tôn giáo Một là, chủ thể QLNN về tôn giáo rất đặc biệt, đặc thù vì mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước thực hiện đối với lĩnh vực hết sức phức tạp, vấn đề nhạy cảm. Đó là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm: Ở Trung ương có Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ; ở cấp tỉnh có Ban Tôn giáo là cơ quan trực thuộc Sở Nội vụ; ở cấp huyện có bộ phận tôn giáo thuộc Phòng Nội vụ.
Các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực đặc biệt của xã hội để tác động, điều chỉnh hoạt 11 động tôn giáo, để hoạt động tôn giáo được tiến hành theo quy định pháp luật, quản lý nhà nước về tôn giáo dựa trên cơ sở thực thi pháp luật. Hai là, đối tượng quản lý của Nhà nước về tôn giáo, gồm có: (1) Đối tượng QLNN về tôn giáo là tín đồ, nhà tu hành, chức sắc: Theo quy định của pháp luật về tôn giáo hiện hành (Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016) thì “Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận” (Khoản 6, Điều 2); “Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo” (Khoản 7, Điều 2); “Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức” (Khoản 8, Điều 2). Đội ngũ chức sắc và tín đồ làm chức năng truyền đạo, quản lý việc hành đạo từ cơ sở, một quốc gia, đến phạm vi toàn thế giới (như Giáo hội Công giáo). Các chức sắc tôn giáo được các tổ chức giáo hội đào tạo, quản lý chặt chẽ theo quy định của giáo lý, giáo luật.
(2) Các cơ sở vật chất (như nhà thờ, nhà chùa, thánh đường…) phục vụ và đảm bảo các điều kiện về vật chất, trang thiết bị cho hoạt động của tôn giáo và các sinh hoạt tôn giáo đối với các tôn giáo khác nhau. Thứ ba, quản lý nhà nước về tôn giáo mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách về tôn giáo để quản lý. Quyền lực ở đây được hiểu là khả năng chi phối của một chủ thể đến một khách thể trong mối quan hệ nào đó, nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Theo đó, quyền lực của chủ thể lập quản lý nhà nước về tôn giáo hay cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo được hiểu là khả năng chi phối lãnh đạo, quản lý đến đối tượng quản lý (các chức sắc, nhà tu hành,…) trong mối quan hệ vận động phát triển nhằm mục tiêu tổng thể, mục tiêu phát triển chung về kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực tôn giáo.
QLNN về tôn giáo là hoạt động thực thi quyền hành pháp, là sự tác động, điều chỉnh có tổ chức bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các hoạt động của các cá nhân, tổ chức 12 tôn giáo do các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) tiến hành. Thứ tư, mục tiêu của quản lý nhà nước về tôn giáo là phục vụ nhân dân, đối với cộng đồng xã hội, người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, dựa trên nền tảng tôn trọng quyền tự do tôn giáo của công dân nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội, đặc biệt đối với chức sắc, chức việc và nhà tu hành. Theo đó, QLNN về tôn giáo cần phải đảm bảo quyền tự do về tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện được mục tiêu đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của tôn giáo trong quá trình xây dựng xã hội văn minh và hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay. Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo Vai trò của QLNN về tôn giáo được thể hiện trong những nội dung chính sau đây: Thứ nhất, cho đến hiện nay, vấn đề tôn giáo đang được nhiều người quan tâm về vai trò của nó, bởi lẽ tôn giáo không chỉ là vấn đề tinh thần, tâm linh, đạo đức mà còn quan hệ đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế văn hóa.
Vai trò của tôn giáo được thể hiện khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử. Điều này cho thấy rằng, QLNN về nước về tôn giáo rộng, phức tạp, liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh, trật tự.