Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học (2012) thì: “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ. Tôn giáo là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy” [32, tr.
Dưới góc độ pháp lý, tôn giáo được hiểu là “niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức” (Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016). Dưới góc độ tiếp cận của QLNN, tôn giáo là đối tượng của quản lý nhà nước. Trong QLNN về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo cá nhân và tôn giáo có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức, khái niệm tôn giáo có tổ chức được hiểu như sau: “tôn giáo là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội” [27, tr. Khái niệm QLNN bao trùm các lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động tôn giáo.
Để Nhân dân được tự do, tín ngưỡng đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ pháp luật, phát huy những yếu 7 tố tích cực, khắc phục những hạn chế của tôn giáo, Nhà nước cần thiết phải quản lý các hoạt động này, đảm bảo cho các hoạt động tôn giáo thực hiện theo đúng quy định, phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo (Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016). Như vậy, có thể hiểu QLNN về tôn giáo là quá trình quản lý bảo đảm việc chấp hành pháp luật về tổ chức hoạt động của các tổ chức cơ sở tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm về tôn giáo nêu trên cũng cần phân biệt sự khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo, mặc dù tôn giáo và tín ngưỡng đều thuộc về lĩnh vực văn hóa tâm linh.
Tôn giáo có giáo chủ, giáo lý, có hệ thống từ trung ương đến tận cơ sở; còn tín ngưỡng thờ đa thần, không có giáo chủ, giáo lý và hệ thống tổ chức. Tôn giáo thường quan tâm đến nguồn gốc con người và cuộc sống sau khi chết, còn tín ngưỡng quan tâm đến cuộc sống hiện hữu của con người được thần thánh hóa. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện QLNN về tôn giáo của UBND cấp huyện là quá trình các cơ quan trong bộ máy hành pháp cấp huyện tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo tại địa phương của mình. UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn theo phân cấp của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp huyện Từ khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện như trên, có thể khẳng định rằng quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện có đầy đủ các đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước, đó là: Một là, quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện mang tính quyền lực đặc biệt, được tổ chức chặt chẽ và mang tính mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước; Hai là, quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện là hoạt động dựa trên chương trình, kế hoạch và mục tiêu xác định; Ba là, Hoạt động mang tính liên tục và tương đối ổn định; có tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ, là một hệ thống thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, cấp dưới phục tùng cấp trên, thực hiện mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên; không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội giữa người quản lý và người bị quản lý. Do đó, đặc điểm của QLNN về tôn giáo của UBND cấp huyện được xem xét ở những mặt sau: Thứ nhất, chủ thể QLNN về tôn giáo của UBND cấp huyện là bộ phận tôn giáo thuộc Phòng Nội vụ. Bộ phận tôn giáo thực thi chức năng, quyền hạn để tác động, điều chỉnh hoạt động tôn giáo trên địa bàn đảm bảo hoạt động tôn giáo được tiến hành theo quy định pháp luật, quản lý nhà nước về tôn giáo dựa trên cơ sở thực thi pháp luật. So với chủ thể khác cùng cấp, chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện không mang tính quy mô như ở một số lĩnh vực khác.
Tuy nhiên, chủ thể quản lý công tác này không những có kiến thức về quản lý nhà 9 nước mà còn có kiến thức hiểu biết sâu rộng về tôn giáo. Đồng thời, chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện phải phối hợp tốt với với các ban ngành khác như Công an huyện, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Ban Dân vận Huyện ủy, Mặt trận Tổ quốc huyện…để cùng thống nhất quan điểm trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện gồm có: về cá nhân có tín đồ, nhà tu hành, chức sắc; về tổ chức tôn giáo có cơ sở vật chất (nhà thờ, nhà chùa, thánh đường…) phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các sinh hoạt tôn giáo. Trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, việc nắm bắt từng đặc điểm của đối tượng quản lý là rất quan trọng, nhằm tìm ra những nét đặc trưng của đối tượng, thông qua đó giúp cho bộ phận làm công tác tôn giáo sử dụng các phương pháp quản lý thích hợp theo từng lĩnh vực khác nhau, đồng thời việc nắm bắt các đặc điểm này rất quan trọng trong công tác vận động quần chúng, đặc biệt là các chức sắc.
Điều này quyết định đến chính sách tôn giáo, bởi vì chức sắc các tôn giáo là bộ phận đầu não nên tư duy, thái độ, tiếng nói của các vị này tác động rất lớn đến các tín đồ của tôn giáo. Đối với tín đồ, phải chú ý trên hai phương diện: công dân và tín đồ. Với tư cách công dân họ có quyền và lợi ích hợp pháp như những công dân khác, phần lớn họ là người nông dân lao động cần cù chịu khó và có tinh thần yêu nước. Còn tín đồ có niềm tin tôn giáo, có những quyền và nghĩa vụ đối với giáo hội.
Trên thực tế ở mỗi tín đồ tôn giáo đều có sự thống nhất giữa hai phương diện trên, tuy nhiên do trình độ nhận thức và do hoàn cảnh sống, ở mỗi người sẽ khác nhau. Tín đồ các tôn giáo với các lối sống đạo khác nhau nhưng nhìn chung đều có tình cảm và niềm tin tôn giáo sâu sắc. 10 Đối với chức sắc tôn giáo, họ cũng là tín đồ, nhưng họ được đào tạo, được tấn phong vào các chức vị trong tổ chức tôn giáo và có thẩm quyền nhất định về mặt tôn giáo trong tổ chức tôn giáo đó. Mặt khác, chức sắc tôn giáo, trong phạm vi nội bộ, họ đóng vai trò đại diện cho giáo chủ trên một số phương diện nhất định.
Ba mặt này thống nhất trong một con người chức sắc tôn giáo, nhưng sự phát huy thế mạnh của tính thống nhất đó như thế nào lại tùy thuộc vào trình độ và uy tín của mỗi người cụ thể. Đối với cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo, được nhìn nhận trên bốn đặc điểm đặc trưng riêng có của các cơ sở tôn giáo: hiện vật vật chất, tính tôn nghiêm, nơi sinh hoạt cộng đồng và trụ sở. Với đặc điểm thứ nhất, nó được trân trọng vì đó là giá trị văn hóa vật thể (ngôi chùa, gác chuông cổ,…) là những cái bất biến được duy trì trong suốt quá trình lịch sử tạo nên vật quý báu của nền văn hóa dân tộc và những giá trị này sẽ tiếp tục tồn tại trong thời đại văn minh, góp phần làm giàu cho bản thân dân tộc và đất nước; với đặc điểm mang tính tôn nghiêm vì đó là nơi hiện hữu của thần quyền, nơi biểu hiện đức tin tôn giáo, nơi diễn ra các nghi lễ tôn giáo…; với đặc điểm sinh hoạt cộng đồng vì đó là nơi diễn ra các lễ hội tín ngưỡng, với đặc điểm là trụ sở vì đó là nơi sinh hoạt của các tổ chức tôn giáo… Đối với các sinh hoạt tôn giáo có thể được xem xét ở hai khía cạnh: nội dung và chủ thể. Nội dung của sinh hoạt tôn giáo bao gồm luật lệ và nghi lễ tôn giáo.
Tùy từng loại hoạt động mà luật lệ và nghi lễ tôn giáo được thực hiện theo những điều đã được ghi trên văn bản thành văn hoặc được thực hiện theo truyền thống, tập tục. Về mặt chủ thể của sinh hoạt tôn giáo, có thể do chức sắc tôn giáo, có thể do chức việc, có thể do tập thể hoặc cá nhân phụ trách. 11 Thứ ba, quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện sử dụng công cụ pháp luật, chính sách, quyền lực nhà nước. QLNN về tôn giáo của UBND cấp huyện là hoạt động thực thi quyền hành pháp đối với các hoạt động của các cá nhân, tổ chức tôn giáo do UBND cấp huyện tiến hành.
Thứ tư, mục tiêu của quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển trên địa bàn. QLNN về tôn giáo của UBND cấp huyện phát huy tính khoan dung, hòa đồng giữa các tôn giáo nhằm đoàn kết các tôn giáo để đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, đồng thời chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào có đạo, thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào tín đồ tôn giáo đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.