Tổng quan luận án

Hiện tượng tôn giáo mới và phong trào tôn giáo mới đã trở thành một trong những vấn đề nổi bật trong đời sống văn hóa – xã hội trên quy mô toàn cầu từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Tác giả chỉ ra các biến cố tiêu cực liên quan đến các giáo phái mới trên thế giới như vụ giáo phái Aum Shinrikyo thả khí độc Sarin tại tàu điện ngầm Tokyo (Nhật Bản, 1995), vụ tấn công giáo phái Branch Davidians tại Waco, Texas (Mỹ, 1993), vụ tự sát tập thể của 39 thành viên giáo phái Heaven’s Gate tại California (Mỹ, 1997), hay sự kiện gần 780 tín đồ của Phong trào phục hồi 10 điều răn của Chúa bị sát hại hoặc tự sát tại Uganda (năm 2000). Tại châu Á, nhiều tôn giáo mới sau thời gian bị ngăn cấm đã được thừa nhận và phát triển như Nhất Quán Đạo (Đài Loan), Soka Gakkai (Nhật Bản), Daesoonjinrihoe (Hàn Quốc), Linh Linh giáo (Trung Quốc), Sai Baba (Ấn Độ).

Ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực Nam Bộ, xuất hiện cả các tôn giáo mới du nhập (Nhân chứng Jehovah, Mormon, Nhất Quán Đạo) lẫn các tôn giáo mới nội sinh (Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Cao Đài). Bên cạnh đó, một số hiện tượng tôn giáo mới phát sinh mang tính cực đoan, gây hoang mang dư luận (như giáo phái Ngày tận thế, Thanh Hải Vô thượng sư, Pháp Luân Công, Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ). Nhận thức và thái độ ứng xử của xã hội đối với hiện tượng này vẫn chưa thống nhất, còn tồn tại quan điểm xem đây là tà đạo, giả tôn giáo hoặc đơn thuần là biến thể của Phật giáo và Tin Lành. Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ dưới góc độ triết học Mác - Lênin là yêu cầu cấp thiết nhằm phục vụ công tác quản lý và phát triển bền vững vùng đất này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về thế giới quan, phương pháp luận, nguyên tắc tiếp cận, lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ trong bối cảnh hiện nay.
  2. Làm rõ những tư tưởng cơ bản, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của các tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm hai điểm chính:

  1. Trình bày các khái niệm, phân loại về tôn giáo mới và nguyên nhân hình thành tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ.
  2. Trình bày nguồn gốc hình thành và nội dung của một số tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ, từ đó rút ra tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu: Một số hình thức tôn giáo mới nội sinh trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Khảo sát thực tế tại một số tỉnh, thành phố Nam Bộ gồm Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Thời gian: Giới hạn nghiên cứu các hình thức tôn giáo mới nội sinh hình thành và hoạt động trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX.
  • Khách thể và chủ thể nghiên cứu: Tập trung vào các tổ chức tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo trong cộng đồng người Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài được tác giả phân chia và kế thừa theo ba hướng chính:

Hướng thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn về tôn giáo mới của các học giả ở nước ngoài.

  • Học giả Âu - Mỹ: Murray Rubinstein (2004) với công trình về phong trào tôn giáo mới ở Việt Nam, Philipin và Indonesia; Cho Ryang (1997) nghiên cứu về Đạo Cao Đài; Joseph J. Chen nghiên cứu về Nhất Quán Đạo Đài Loan. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Bryan Wilson (1961, 1979) nghiên cứu phân loại giáo phái theo con đường cứu độ; Marcus Bach, Eileen Barker, James Beckford (1969) khảo sát các nghi lễ tôn giáo mới; Christopher Partridge (2004, 2006) tổng hợp bách khoa toàn thư về tôn giáo mới và đề xuất 6 tiêu chí nhận diện; Gordon J. Melton, Jacob Needleman, George Baker, Charles T. Tart, Ninian Smart, Stephen J. Hunt, John A. Saliba, Lewis R. Rambo, Peter L. Berger phân tích chuyển đổi tôn giáo, tâm linh hậu hiện đại và nhận thức luận tôn giáo; Jan Karel Van Baalen (1956) nghiên cứu các giáo phái thời kỳ đầu; W. Cole Durham, Jr và Brett G. Scharffs (2013) nghiên cứu pháp luật và tôn giáo.
  • Học giả phương Đông và Liên bang Nga: Shimada Hiromi (2007) và Nobutaka Inoue (1991) đưa ra định nghĩa và tiêu chí tôn giáo mới tại Nhật Bản (Shinshukyo); Neughwa Yi (1977), Kim Hyogyeong (1989), Dongu Kang (1992), Kim Hong Cheol (1997), Yu Byeongdeok (1985), Lee Gyungwon (2016), Kim Dae Jung (2010) phân tích tôn giáo mới Hàn Quốc (Shin jonggyo) gắn với Đông học và Tam giáo dung hợp; N. Capustin, D. Ugrinovic, R. Spaznhicop (Liên Xô/Nga) đưa ra khái niệm tôn giáo dung hợp (Syncretic Religions) khi nghiên cứu Cao Đài, Hòa Hảo; Vương Quang Minh (2011), Trương Chí Cương, Trác Tân Bình (2007), Lã Đại Cát, Vương Tự Tâm (Trung Quốc) nghiên cứu về tà giáo và trào lưu tôn giáo mới đương đại.

Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.

  • Công trình tuyển tập và chuyên khảo của Nguyễn Đức Sự (1995) biên soạn về quan điểm của C. Mác – Ph. Ăngghen về tôn giáo; các tập 3, 5, 8, 21, 22 trong bộ C. Mác – Ph. Ăngghen Toàn tập; các tác phẩm của V.I. Lênin (Toàn tập, tập 17); các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh của Lê Sỹ Thắng, Lê Quang Hoan, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương và bộ Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 1, 1995).
  • Các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa VI đến khóa XII; Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị khóa VI (1990); Hiến pháp năm 1992; Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2018 (thông qua năm 2016).

Hướng thứ ba: Các công trình nghiên cứu tôn giáo và tôn giáo mới ở trong nước.

  • Đặng Nghiêm Vạn (1995, 1999, 2006) nghiên cứu tiến trình lịch sử tôn giáo, đưa ra khái niệm "tôn giáo bồng bềnh"; Đỗ Quang Hưng (2010, 2011) đề xuất khái niệm "cấu hình tôn giáo" và phân loại hiện tượng tôn giáo mới; Mai Thanh Hải (2000, 2008) phân tích tôn giáo cực đoan, thuyết tận thế và các đạo của nông dân đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Hồng Dương (2010) nghiên cứu diện mạo tôn giáo Việt Nam và nguồn gốc Bửu Sơn Kỳ Hương; Nguyễn Quốc Tuấn (2010, 2011, 2012) phân kỳ tôn giáo mới trước và sau năm 1975; Phạm Văn Phụng và Nguyễn Văn Nhụ (2008) xem xét khía cạnh pháp lý của "đạo lạ"; Ngô Hữu Thảo và Đào Văn Bính (2014) khảo sát đạo lạ tại Hà Nội; Trương Văn Chung (2014, 2016) phân tích tôn giáo mới tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Xuân Hậu (2011) khảo cứu Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn; Trương Hải Cường (2012) khảo sát xã hội học về đạo lạ.
  • Các công trình chuyên khảo về văn hóa và tôn giáo Nam Bộ: Ngô Văn Lệ (2011, 2012, 2017) với các đề tài cấp Nhà nước về đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo cội nguồn Nam Bộ; Trần Ngọc Thêm (2013) nghiên cứu văn hóa Tây Nam Bộ; Huỳnh Ngọc Thu (2017) nghiên cứu Đạo Cao Đài; Phan An (2011), Phan Lạc Tuyên (2004, 2018), Huỳnh Thiệu Phong (2016) nghiên cứu hiện tượng "Ông Đạo"; Trịnh Doãn Chính (2011) nghiên cứu tư duy và lối sống cư dân Đông Nam Bộ; Vương Kim và Đào Hưng (1953), Nguyễn Văn Hầu (1956, 1974), Đinh Văn Hạnh (1996), Lê Anh Dũng (1996), Phạm Kỳ Chương, Trần Văn Rạng (1975), Nguyễn Thành Long, Huệ Khả (2008), Trần Tiến Thành (2009, 2018) nghiên cứu về các giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Ngũ Chi Minh Đạo.
Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Nội dung chính đã công bố
Lý thuyết tôn giáo mới quốc tế Bryan Wilson, Christopher Partridge, John A. Saliba, Shimada Hiromi, Lee Gyungwon, N. Capustin Khái niệm NRM, 6 tiêu chí nhận diện, lý thuyết thế tục hóa, tôn giáo dung hợp, tâm linh hậu hiện đại.
Kinh điển Mác - Lênin & Hồ Chí Minh C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh Bản chất nhận thức luận, nguồn gốc kinh tế - xã hội, tâm lý tôn giáo, quan điểm dân tộc học phương Đông.
Tôn giáo bản địa & tôn giáo mới Việt Nam Đặng Nghiêm Vạn, Đỗ Quang Hưng, Mai Thanh Hải, Ngô Văn Lệ, Trương Văn Chung, Nguyễn Hồng Dương Cấu hình tôn giáo, tôn giáo bồng bềnh, hiện tượng Ông Đạo, lịch sử hình thành Bửu Sơn Kỳ Hương, PGHH, Cao Đài.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Mặc dù các công trình trước đây đã tiếp cận tôn giáo mới dưới các góc độ xã hội học, lịch sử hoặc miêu tả từng giáo phái riêng lẻ, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chỉnh thể các hình thức tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ (thế kỷ XIX - XX) trên lập trường triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, làm rõ nguồn gốc hình thành, nội dung tư tưởng, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của dòng tôn giáo này trong sự phát triển bền vững của vùng đất Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên 3 quan điểm chỉ đạo:

  1. Quan điểm thống nhất giữa tính quyết định luận và tính tương đối luận.
  2. Quan điểm về sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đặc thù lịch sử.
  3. Quan điểm phát triển bền vững vùng Nam Bộ.

Các nguyên tắc tiếp cận nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử:

  • Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: Tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ là sự phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất, hoàn cảnh lịch sử, xã hội của vùng đất Nam Bộ qua các thời kỳ.
  • Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng: Sự thay đổi của cơ sở kinh tế - xã hội Nam Bộ dẫn đến sự hình thành và biến đổi của các tổ chức tôn giáo thuộc kiến trúc thượng tầng.
  • Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội: Các tôn giáo mới nội sinh kế thừa truyền thống văn hóa, tôn giáo trước đó và có quy luật vận động nội tại tương đối độc lập.

Khái niệm trung tâm được luận án xây dựng: "Tôn giáo mới nội sinh vùng Nam Bộ là hình thái tôn giáo với giáo lý, giới luật, nghi lễ, tổ chức hoạt động, cơ sở thờ tự, tín đồ tương đối khác biệt, độc lập với tôn giáo thông thường và tôn giáo truyền thống, chúng phản ánh những biến động lớn của đời sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh thần xã hội vùng Nam Bộ và nhu cầu tâm linh mới của một cộng đồng người trong môi trường sinh thái – nhân văn Nam Bộ."

Khung phân tích lý thuyết: Sử dụng 6 tiêu chí xác định tôn giáo mới và phân loại 5 dạng thức tôn giáo của Christopher Partridge; khung lý thuyết tôn giáo dung hợp (Syncretic Religions) của N. Capustin và D. Ugrinovic; khung tư tưởng Tam giáo dung hợp kết hợp tín ngưỡng bản địa của các học giả Đông Á; lý thuyết thế tục hóa và lý thuyết lựa chọn hợp lý.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp chung: Phương pháp lôgích và lịch sử, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống - liên ngành và phương pháp văn bản học.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case studies Method) và phương pháp mô tả dày (Thick description Methods).

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn bản gốc kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; văn kiện Đảng và pháp luật Nhà nước.
  • Các tài liệu kinh điển, sấm giảng của các tôn giáo: Thi văn giáo lý Phật giáo Hòa Hảo (1964), Sấm giảng giáo lý Phật giáo Hòa Hảo (1976) của Huỳnh Phú Sổ; các văn bản giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Cao Đài.
  • Dữ liệu khảo sát điền dã thực tế tại Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, An Hòa Tự (thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang); Tổ đình An Bình Tự và các chức việc Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn (thị trấn Kiên Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang); khảo sát tại Sóc Trăng, Trà Vinh, TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết, 16 tiểu tiết.

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tôn giáo mới và sự hình thành tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tôn giáo mới trên thế giới và phân tích các tiền đề hình thành tôn giáo mới nội sinh tại Nam Bộ.

1. Những vấn đề lý luận về tôn giáo mới:

  • Khái niệm và phân loại: Phân tích quá trình chuyển đổi thuật ngữ từ Sects/Cults mang tính định kiến sang thuật ngữ khoa học "Tôn giáo mới" (New Religions / New Religious Movements). Tổng hợp quan điểm của học giả Nhật Bản (Shinshukyo), Hàn Quốc (Shin jonggyo), Trung Quốc và Việt Nam. Phân tích 6 tiêu chí nhận diện tôn giáo mới của Christopher Partridge và khung phân loại 5 dạng thức tôn giáo mới dựa trên cội nguồn văn hóa.
  • Nguồn gốc của tôn giáo mới:
    • Nguồn gốc xã hội: Dựa trên luận điểm của V.I. Lênin về áp bức kinh tế - xã hội, cùng khổ và dốt nát; lý thuyết thế tục hóa và ma trận biến đổi xã hội của Lewis R. Rambo.
    • Nguồn gốc nhận thức: Giới hạn nhận thức lịch sử của con người; ảnh hưởng của trào lưu hậu hiện đại (postmodernism) với các đặc trưng đề cao tính đặc thù, tính tương đối và tính đa nguyên; chủ nghĩa duy ý chí phương Tây.
    • Nguồn gốc tâm lý: Nỗi sợ hãi trước sức mạnh tự nhiên và xã hội; hiện tượng tâm linh vượt thắng (Transpersonal Spirituality), tâm linh cái tôi và tâm linh ảo giác trong văn hóa hậu hiện đại.

2. Điều kiện, tiền đề hình thành tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ thế kỷ XIX, thế kỷ XX:

  • Khái niệm tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ: Xác định đây là một dạng thức cụ thể của dòng tôn giáo bản địa Đông Á, có căn tính dung hợp Tam giáo và gắn liền với môi trường sinh thái - nhân văn Nam Bộ.
  • Điều kiện hình thành:
    • Điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội: Hậu quả chiến tranh Trịnh - Nguyễn; công cuộc khai hoang vùng đất Nam Bộ đầy gian khổ, khắc nghiệt ("muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh", thú dữ, dịch bệnh); ách thống trị của thực dân Pháp với hai cuộc khai thác thuộc địa làm bần cùng hóa đời sống nông dân.
    • Điều kiện tự nhiên - môi sinh: Vùng đất sông ngòi chằng chịt, rừng rậm hoang vu, khí hậu biến động tạo nên tâm lý bất an, thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm chỗ dựa tâm linh cứu độ.
  • Tiền đề tư tưởng: Truyền thống Tam giáo đồng nguyên (Phật, Nho, Đạo) du nhập từ trước kết hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa của cư dân người Việt (thờ Mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ anh hùng tiền hiền khai khẩn).

Chương 2: Nội dung và tính chất của các tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ thế kỷ XIX và thế kỷ XX

Chương 2 trình bày chi tiết nội dung tư tưởng cốt lõi và luận giải 3 tính chất căn bản của các tôn giáo mới nội sinh tại Nam Bộ.

1. Nội dung tư tưởng cơ bản của các tôn giáo mới nội sinh:

  • Thế kỷ XIX: Khảo cứu giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên (Đức Phật Thầy Tây An) khởi xướng năm 1849 với tôn chỉ "Học Phật - Tu Nhân", đề cao Tứ đại trọng ân; Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do Ngô Lợi sáng lập năm 1867 tại vùng Thất Sơn với tư tưởng đền đáp bốn ơn lớn và thực hành đạo đức cư sĩ.
  • Thế kỷ XX: Khảo cứu Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) thành lập năm 1926 tại Tây Ninh với giáo lý quy nguyên Tam giáo, phục nhất Ngũ chi; Phật giáo Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo (An Giang) tiếp nối truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương, cải cách nghi thức thờ phượng theo hướng giản dị; Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn do Huỳnh Trí Châu truyền bá tại vùng Kiên Lương (Kiên Giang).

2. Tính chất của tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ:

  • Tính chất dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng: Thể hiện qua sự kết hợp hữu cơ giữa thế giới quan Phật giáo (thuyết nhân quả, luân hồi, cứu khổ), đạo lý Nho giáo (tam cương, ngũ thường, hiếu đễ), phép tu Đạo giáo (tu dưỡng tâm tính, phép dưỡng sinh, trừ tà) và các tín ngưỡng dân gian địa phương (thờ Thành hoàng, Thổ địa, Tiền hiền, Bà Chúa Xứ).
  • Tính chất dân tộc: Gắn liền với lòng yêu nước và tinh thần chống giặc ngoại xâm. Giáo lý các tôn giáo đều đặt "Ân đất nước" thành một trong những nghĩa vụ thiêng liêng; nhiều tín đồ và chức việc tích cực tham gia các phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp (như khởi nghĩa Bảy Thưa của Quản cơ Trần Văn Thành, căn cứ kháng chiến Ba Chúc của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa).
  • Tính chất nhập thế: Thực hiện phương châm "tại gia tu niệm", "vừa cày ruộng vừa tu", gắn việc tu hành với hoạt động sản xuất nông nghiệp, khai hoang lập ấp, bốc thuốc chữa bệnh cứu người và tương trợ xã hội.

Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa của tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ

Chương 3 khái quát 3 đặc điểm nhận diện nổi bật và khẳng định ý nghĩa lịch sử của dòng tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ.

1. Đặc điểm của các tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ:

  • Biến đổi và phân ly nhanh: Do cấu trúc tổ chức giáo hội ban đầu tương đối lỏng lẻo, phương thức truyền giáo chủ yếu dựa vào uy tín cá nhân và văn vần truyền khẩu, các tôn giáo này nhanh chóng nảy sinh nhiều nhánh phái, điển hình là hiện tượng các "Ông Đạo" (Đạo Dừa, Đạo Câm, Đạo Tưởng, Đạo Rùa...) xuất hiện rải rác khắp miền Tây Nam Bộ.
  • Luôn có niềm tin vào giáo chủ, tin vào thuyết mạt thế và Hội Long Hoa: Tín đồ dành sự sùng kính tuyệt đối cho vị giáo chủ sáng lập (coi là Phật sống, hóa thân giáng thế cứu độ); giáo lý luôn chứa đựng thuyết mạt thế (thời kỳ mạt pháp, tai ương hủy diệt) và hướng niềm tin vào Hội Long Hoa – nơi Đức Phật Di Lặc sẽ tuyển chọn người lành bước vào kỷ nguyên thái bình an lạc.
  • Giáo lý, nghi lễ đơn giản: Lược bỏ các khoa nghi rườm rà, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan tốn kém; kinh sách được diễn giải bằng thơ ca lục bát, văn vần dễ thuộc, dễ hiểu; đối tượng thờ cúng đơn giản (như tấm vải đỏ Trần Điều trong Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa; bàn thờ Thông Thiên ngoài trời; biểu tượng Thiên Nhãn trong Cao Đài; tấm trần dũi đỏ và nước lã, hoa tươi trong Phật giáo Hòa Hảo).

2. Ý nghĩa của các tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ:

  • Ý nghĩa về mặt đạo đức: Góp phần củng cố các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc như lòng hiếu thảo, tinh thần nghĩa khí, tính trung thực, tương thân tương ái thông qua thực hành thuyết Tứ Ân và các điều răn cấm làm tổn hại đạo đức xã hội.
  • Ý nghĩa về mặt văn hóa: Định hình một diện mạo văn hóa tâm linh đặc thù của vùng đất Nam Bộ; bảo lưu các phong tục tập quán tốt đẹp, làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian qua các tác phẩm thi văn, sấm giảng.
  • Ý nghĩa về mặt xã hội: Đóng vai trò là chất keo gắn kết cộng đồng cư dân trong quá trình khai hoang mở cõi và bảo vệ biên cương; hình thành mạng lưới tương trợ xã hội bền vững (xây cầu, làm đường, chữa bệnh miễn phí, cứu trợ thiên tai), đóng góp vào sự ổn định và phát triển bền vững của vùng đất Nam Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu hai đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học:

  1. Làm rõ được nội dung, tính chất của những hình thức tôn giáo mới nội sinh trong cộng đồng người Việt Nam Bộ.
  2. Nêu ra những đặc điểm và ý nghĩa của các tôn giáo mới nội sinh Nam Bộ trong sự phát triển bền vững Nam Bộ.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp các luận cứ khoa học để:

  • Giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền và các cơ quan làm công tác tôn giáo nhận diện khách quan bản chất, nhu cầu tâm linh của quần chúng tín đồ tôn giáo mới nội sinh.
  • Đề xuất việc hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về tôn giáo nhằm phân biệt rõ giữa tôn giáo nội sinh chân chính gắn bó với dân tộc và các hiện tượng tà đạo, lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định an ninh trật tự.
  • Phát huy các nguồn lực đạo đức, văn hóa và hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo mới nội sinh trong công cuộc xây dựng và phát triển bền vững vùng Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do tính chất phức tạp của địa bàn và thời gian nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào một số hình thức tôn giáo mới nội sinh tiêu biểu của cộng đồng người Việt tại một số tỉnh, thành Nam Bộ trong thế kỷ XIX và XX, chưa thể bao quát toàn bộ các hình thức tôn giáo mới của các tộc người khác (như người Khmer, Hoa, Chăm) cũng như các giáo phái mới du nhập sau này.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sự biến đổi của các tôn giáo mới nội sinh Nam Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
  • Thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ với các tôn giáo mới nội sinh tại các quốc gia trong khu vực Đông Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các ngành Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Lịch sử và Dân tộc học trong các trường đại học và viện nghiên cứu.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước về tôn giáo tại các ban, ngành thuộc khu vực Nam Bộ và Trung ương.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Khung lý luận xác định tiêu chí tôn giáo mới nội sinh; các phân tích về tính chất dung hợp - dân tộc - nhập thế; hệ thống tư liệu điền dã thực tế tại các tổ chức tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo và Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra định nghĩa như thế nào về tôn giáo mới nội sinh vùng Nam Bộ? Luận án xác định tôn giáo mới nội sinh vùng Nam Bộ là hình thái tôn giáo có giáo lý, giới luật, nghi lễ, tổ chức hoạt động, cơ sở thờ tự và tín đồ tương đối khác biệt, độc lập với tôn giáo truyền thống; phản ánh những biến động lớn của đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần xã hội Nam Bộ và đáp ứng nhu cầu tâm linh mới của cộng đồng người trong môi trường sinh thái – nhân văn Nam Bộ.

2. Các tôn giáo mới nội sinh nào ở Nam Bộ được lựa chọn làm đối tượng khảo cứu chính trong luận án? Luận án tập trung khảo cứu các tôn giáo mới nội sinh xuất hiện trong thế kỷ XIX và XX trong cộng đồng người Việt gồm: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Đạo Cao Đài và nhóm các "Ông Đạo".

3. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo mới nội sinh Nam Bộ được luận án luận giải ra sao? Nguồn gốc xã hội bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử đầy biến động: cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn đẩy nông dân đi khai hoang vùng đất mới hoang vu đầy hiểm trở; ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc địa khiến người nông dân rơi vào cảnh bần cùng hóa, bất lực trước hoàn cảnh thực tại, từ đó tìm kiếm lối thoát và sự cứu rỗi trong niềm tin tôn giáo.

4. Ba tính chất và ba đặc điểm căn bản của tôn giáo mới nội sinh Nam Bộ được luận án xác định là gì?

  • Ba tính chất: Tính chất dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng (Tam giáo và tín ngưỡng dân gian); Tính chất dân tộc (yêu nước, gắn bó với vận mệnh dân tộc, đền đáp Tứ ân); Tính nhập thế (cư sĩ tại gia, vừa tu vừa lao động sản xuất, từ thiện xã hội).
  • Ba đặc điểm: Biến đổi và phân ly nhanh (hình thành nhiều hệ phái, nhóm Ông Đạo); Luôn có niềm tin vào giáo chủ, tin vào thuyết mạt thế và Hội Long Hoa; Giáo lý và nghi lễ đơn giản (thờ Trần Điều, bài trừ cúng bái rườm rà).

5. Luận án đã tiến hành điền dã, khảo sát thực tế tại những địa điểm cụ thể nào? Tác giả đã khảo sát thực tế tại Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Tổ đình An Hòa Tự (huyện Phú Tân, tỉnh An Giang); Tổ đình An Bình Tự và các chức việc Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn (huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang), cùng khảo sát thực tế tại các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thoại Linh đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về tôn giáo mới nội sinh ở Nam Bộ trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ nguồn gốc hình thành, nội dung tư tưởng, ba tính chất (dung hợp, dân tộc, nhập thế) và ba đặc điểm (phân ly nhanh, tin vào giáo chủ/mạt thế, nghi lễ đơn giản) của các tôn giáo bản địa Nam Bộ trong thế kỷ XIX và XX. Những kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu học thuật chuyên sâu và hoạch định chính sách tôn giáo phục vụ phát triển bền vững vùng Nam Bộ.