Chương 1 ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM 1. Một số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo Khái niệm đạo đức Đạo đức với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội, do đó hiện có rất nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau về đạo đức. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực mà nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người cũng như tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội. Theo nghĩa rộng, đạo đức là toàn bộ quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và trong quan hệ với tự nhiên.
Ở phương Đông, do chịu ảnh hưởng chủ yếu từ tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, thường xem xét đạo đức trong phạm trù “Đạo”, đề cao chữ Nhân, chữ Nghĩa và tư tưởng “kiêm ái” của Mặc Tử. Ở phương Tây, từ thế kỷ XVII, XVIII, cùng với sự mở rộng và phát triển của kinh tế thị trường, J.Weber (Đức) đã đề cập đến các khái niệm về “đạo đức thị trường”, “đạo đức duy lý”. Đạo đức học Mác- Lênin cho rằng : đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, một phương thức điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua một hệ thống những giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực biểu thị sự quan tâm tự nguyện tự giác của con người với con người, con người với xã hội. Như vậy, theo quan điểm mác-xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một định chế xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người.
Đạo đức là những nguyên tắc sống, những quy phạm gắn liền và phù hợp với một hình thái kinh tế- xã hội nhất định, được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của 10 xã hội, những quy phạm, nguyên tắc, tiêu chuẩn, lý tưởng này có tính nhất thời về lịch sử và mang tính giai cấp rõ rệt. Theo tác giả Huỳnh Khái Vinh, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, gồm những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội” [76, tr. Chúng tôi cho rằng đây là định nghĩa phù hợp với cách chúng tôi triển khai nội dung của luận văn. Cấu trúc đạo đức Đạo đức vận hành như một hệ thống tương đối độc lập của xã hội.
Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn, xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.
Nếu xét trong mối quan hệ giữa người với người thì nhìn ra quan hệ đạo đức. Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù và cái đơn nhất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân. Đạo đức phật giáo Theo tiến trình lịch sử, tôn giáo trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, văn minh nhân loại. Xét trên bình diện thế giới, tôn giáo không chỉ là sự thể hiện niềm tin, mà còn là cầu nối văn hóa giữa các nước, các khu vực nên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người.
Mặc dù mỗi tôn giáo có hệ thống giáo lý riêng song về cơ bản đều hướng con người tới Chân, Thiện, Mỹ. Phật giáo là một tôn giáo lớn, đã để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng về tôn giáo, triết học, chính trị, mỹ học, văn hóa,…trong đó nổi bật nhất là tư tưởng đạo đức. Phật giáo về cơ bản không phải là một học thuyết về đạo đức, song xuất phát điểm của nó là chỉ dạy cho con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát. Từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của chúng để xây dựng một hệ thống quan niệm đạo đức.
Như vậy, đạo đức là nền tảng 11 quan trọng trong hệ thống giáo lý của Phật giáo. Đạo đức Phật giáo với các chuẩn mực, giá trị đạo đức mang tính phổ quát và nhân bản có giá trị không chỉ cho những người theo đạo Phật mà có rất nhiều điểm phù hợp với đạo đức xã hội xã hội nói chung. Từ những quan điểm về đạo đức ở trên, có thể định nghĩa đạo đức Phật giáo như sau: Đạo đức phật giáo là toàn bộ những quan niệm, giá trị, những quy tắc đạo đức được thể hiện trong các giáo lý Phật giáo (đặc biệt trong các điều răn cấm) nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và xã hội theo thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo. Quan niệm của Phật giáo về Thiện - Ác, Từ bi Khái niệm Thiện - Ác Thiện và ác là hai từ của dân gian dành chỉ hai hiện tượng luôn hiện hữu trong cuộc sống, trong xử thế.
Người dân thường căn cứ vào cách hành xử của con người trong cuộc sống hàng ngày mà xếp người này người kia là thiện hay ác, nhưng cách đánh giá này đôi khi mang tính phiến diện. Vậy để có cách nhìn, đánh giá đúng và toàn diện và Thiện, Ác, có thể tìm hiểu về khái niệm Thiện, Ác. * Thiện Về ngữ nghĩa, thiện là tính từ chỉ phẩm chất, hành vi của con người tốt lành, hợp với đạo đức. Cái thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hằng ngày.
Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. * Ác Về khía cạnh ngữ nghĩa, “ác” là một tính từ chỉ chung về tính cách của người hoặc một việc làm gây đau khổ, tai họa cho người khác. Một vấn đề cần được làm rõ khi bàn đến biểu hiện thiện và ác, đó chính là tính biện chứng của cặp phạm trù này, thể hiện: trong cái ác lại chứa cái thiện, trong cái thiện đôi khi lại có cái ác. Ví dụ việc con người thử nghiệm một loại thuốc mới trên động vật trước khi đưa ra sử dụng cho con người, việc làm này có cái ác là phải 12 hy sinh các động vật bé nhỏ để thử nghiệm, nếu thành công, việc làm gọi là ác ấy lại tạo ra việc thiện là có thể cứu chữa hàng trăm, hàng nghìn con người.
Cặp phạm trù này đối lập mà xen kẽ, tách biệt mà giao hòa. Nhận thức thiện, ác dù dưới góc độ tâm linh, nhân thế hay khoa học đều phản ánh cái căn gốc của từ “con” và từ “người”, phần “con” biểu lộ tính ác, phần “người” biểu lộ tính thiện. *Một số quan niệm Thiện - Ác trong lịch sử Thứ nhất: Quan niệm của Nho giáo Trong Luận Ngữ, tư tưởng của Khổng Tử về tính người “vốn gần nhau, do tập tính mà xa nhau” [48, tr. 2] đã gây ra nhiều cách giải thích và cách hiểu khác nhau.
Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nói nhiều đến các “hạng người” với những phẩm cách khác nhau: “Người quân tử có khi mắc phải điều bất nhân chăng? Chưa hề có kẻ tiểu nhân làm điều nhân bao giờ” [49, tr. 7]; “Người quân tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn” [49, tr. 24]; “Đối với những người từ bậc trung trở lên, có thể dạy bảo về phần hình nhi thượng; đối với những người từ bậc trung trở xuống, không thể dạy bảo về phần hình nhi thượng vậy” [50, tr.), trong sách Trung Dung, đã dẫn lời Khổng Tử như sau: “Hoặc sinh ra đã biết, hoặc phải học mới biết, hoặc phải cố công gắng sức mới biết, nhưng kể về hiểu biết thì như nhau” [51, tr. Như vậy, Khổng Tử và cháu của ông vừa muốn phổ quát hoá các phẩm cách khác nhau của con người, vừa muốn nhất thể hoá về mặt lý luận các phẩm cách đó.
Điều đó được thể hiện rõ nét qua việc nêu mối quan hệ giữa các hạng người về năng lực trí tuệ với tính người Kế thừa tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử (372 – 289 TCN) đã có một cống hiến xuất sắc cho việc giải quyết vấn đề triết học về con người nói chung và vấn đề tính người nói riêng. Có thể nói, ông là người lần đầu tiên đề xướng lên một học thuyết mang tính hệ thống về tính người. Học thuyết đó gọi là thuyết Tính thiện, hay còn gọi là nhân tính hướng thiện. Mạnh Tử nói: “Người ta ai cũng có lòng bất nhẫn [trước những đau khổ của người khác… Sở dĩ nói ai cũng có lòng bất nhẫn, là vì người ta chợt thấy đứa bé sắp ngã xuống giếng, ai cũng chột dạ, xót xa.
Chẳng phải mong làm thân với cha mẹ đứa bé, cũng không phải mong xóm làng, bạn bè khen 13 ngợi, cũng chẳng phải tránh tiếng xấu. Do đó mà xét, không có lòng trắc ẩn, chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từ nhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy. Lòng trắc ẩn là đầu mối của điều nhân, lòng tu ố là đầu mối của điều nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của điều lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy. Người ta có bốn đầu mối đó, cũng như có hai tay, hai chân vậy” [47, tr.
859 – 862] Tuân Tử (khoảng 298 – 238 TCN), tác giả bộ Tuân Tử (có thể là do ông chấp bút gồm 32 thiên), là người có tư tưởng đối lập với thuyết Tính thiện của Mạnh Tử bằng khẳng định, bản tính con người vốn ác. Tuân Tử viết: “Tính của con người là ác, còn thiện là do con người làm ra.