Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Bùi Hữu Dược, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và hoàn thành vào tháng 5 năm 2014, mang tiêu đề: "Quản lí nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày: Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo với nguồn gốc, lịch sử, đặc trưng và quá trình phát triển khác biệt nhưng sở hữu nhiều điểm tương đồng, nổi bật là sự tôn trọng và chung sống hài hòa trong một cộng đồng đa dân tộc, đa tín ngưỡng. Sau năm 1975, sau khi kết thúc chiến tranh, đất nước vừa phải giải quyết những hậu quả chiến tranh để lại, vừa đối mặt với bối cảnh quốc tế hóa, các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài tự do tôn giáo nhằm kích động phần tử cực đoan chống đối chính quyền và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Thực tế này làm phát sinh hai mâu thuẫn lớn cần giải quyết:

  1. Mâu thuẫn giữa việc đáp ứng nhu cầu tự do tôn giáo của người có đạo thực hiện sinh hoạt bình thường với việc ngăn chặn sự xâm lấn của các trào lưu tôn giáo cực đoan bị chính trị phản động lợi dụng.
  2. Mâu thuẫn giữa việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa và chuẩn mực đạo đức dân tộc trong các tôn giáo truyền thống với sự xâm nhập của các trào lưu tôn giáo mới mang văn hóa, đạo đức phi truyền thống dựa vào cơ chế thị trường.

Để giải quyết các vấn đề trên, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo giữ vai trò quyết định, song thực tế còn bộc lộ nhiều bất cập: nhận thức lý luận về ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội còn tồn tại các luồng ý kiến khác biệt; hệ thống văn bản pháp luật chưa thực sự đồng bộ; bộ máy quản lý còn thiếu tính chuyên nghiệp; tính nhạy cảm và phức tạp của lĩnh vực khiến có rất ít công trình đi sâu nghiên cứu toàn diện về quản lý nhà nước đối với tôn giáo.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về tôn giáo tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Thứ nhất, hệ thống hóa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự pháp điển hóa quan điểm ấy đối với quản lý nhà nước về tôn giáo.
  2. Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam.
  3. Thứ ba, đánh giá, phân tích thực trạng kết quả quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2013.
  4. Thứ tư, khái quát về những vấn đề đặt ra, dự báo tình hình và đề xuất các khuyến nghị đối với quản lý nhà nước về tôn giáo trong thời gian tới.

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Cơ sở cho quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi 2: Đánh giá kết quả quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Đóng góp của việc nghiên cứu đề tài nhằm đưa quản lý nhà nước về tôn giáo đạt hiệu quả hơn là gì?

Luận án đặt ra 3 giả thuyết khoa học để kiểm chứng:

  • Một là, quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam không cần phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn?
  • Hai là, quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam đã đầy đủ, hoàn chỉnh và rất tốt?
  • Ba là, kết quả quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam đã tốt đẹp nên không cần thiết phải điều chỉnh, không cần phải góp ý?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Luận án nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành tôn giáo học; tập trung nghiên cứu sâu về chủ thể quản lý và các yếu tố cấu thành việc thực hiện quản lý, không đi sâu nghiên cứu nội bộ đối tượng quản lý.
  • Phạm vi chủ thể: Các cơ quan nhà nước các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo thông qua đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1975 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2013).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các nhóm tư liệu nghiên cứu cơ bản sau:

  1. Nhóm tài liệu kinh điển: Các tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin (như Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Thái độ của người cộng sản với tôn giáo, tập tuyển chọn của Nguyễn Đức Sự năm 2001) cung cấp cơ sở thế giới quan duy vật lịch sử, phân tích nguồn gốc xã hội và mối quan hệ giữa nhà nước vô sản với tôn giáo. Các công trình về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003), Hoàng Minh Đô (2008), Lê Bá Trình (2012).
  2. Nhóm văn bản lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước: Các nghị quyết chuyên đề như Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo. Về văn bản pháp quy, theo Báo cáo 8 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, từ năm 1945 đến tháng 12/2012, cấp trung ương ban hành 145 văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo, trong đó có 85 văn bản còn hiệu lực thi hành tính đến tháng 12/2012.
  3. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách và quản lý tôn giáo:
  • Về đường lối, chính sách: Đặng Nghiêm Vạn (2001) chỉ ra bức tranh tôn giáo và các mâu thuẫn cần giải quyết; Đỗ Quang Hưng (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đến nhận thức của Đảng từ 1945 đến 2005; Nguyễn Văn Giang (2003) nghiên cứu vùng giáo đồng bằng Bắc Bộ; Đặng Mạnh Trung (2011) nghiên cứu công tác vận động đồng bào Công giáo miền Đông Nam Bộ.
  • Về thực tiễn quản lý và từng tôn giáo cụ thể: Nguyễn Đức Lữ (1992, 2007, 2009) tổng kết cơ sở lý luận và quyền tự do tín ngưỡng; Nguyễn Hồng Dương (1999, 2002, 2004, 2008, 2012, 2013) nghiên cứu sâu về Công giáo và mối quan hệ Nhà nước - Công giáo; Nguyễn Thanh Xuân (2005) trình bày toàn cảnh các tôn giáo; Đỗ Quang Hưng (2006, 2013) luận giải quan hệ Nhà nước và Giáo hội; Trần Minh Thư (1999) đề xuất đổi mới quản lý bằng pháp luật; Ngô Hữu Thảo (1998, 2012) phân tích quan hệ chính trị - tôn giáo và công tác tôn giáo; Nguyễn Tất Đạt (2010) nghiên cứu Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Nguyễn Nghị Thanh (2013) nghiên cứu Phật giáo Nam tông Khmer An Giang; các kỷ yếu tổng kết 50 năm, 55 năm ngành quản lý và hội thảo quản lý Phật giáo của Ban Tôn giáo Chính phủ (2005, 2010, 2011, 2013).
  1. Nhóm tài liệu quốc tế và pháp luật nước ngoài: Các văn kiện quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc (Tuyên ngôn năm 1948, Công ước ICCPR năm 1966, Tuyên ngôn Viên năm 1993); các đạo luật của nước ngoài như Thỏa ước năm 1801, Luật năm 1905, Luật chống tà giáo năm 2001 của Pháp; Luật Liên bang Nga năm 1997; Đạo luật duy trì hòa hợp tôn giáo năm 1991 của Singapore; các công trình nghiên cứu của Francois Houtart (2005), Lý Bình Hoa (2005), Nghiêm Văn Thái (2001), Ngô Hữu Thảo (2005), Đỗ Quang Hưng (2003), Nguyễn Duy Hinh (2007), Trương Văn Chung (2007), cùng các tài liệu biên khảo của Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh do Võ Khánh Vinh (2010) và Mai Hồng Quỳ (2010) chủ biên.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra:

  • Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về lý luận tôn giáo và công tác vận động quần chúng của hệ thống chính trị, nhưng chưa có công trình nào đi sâu trực tiếp vào nội dung chuyên biệt của quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam.
  • Các công trình trước đây khi đề xuất giải pháp cho công tác tôn giáo chưa đánh giá đầy đủ thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo, dẫn đến các giải pháp đưa ra còn thiếu tính đồng bộ và chưa sát thực tế.
  • Các công trình nghiên cứu pháp luật và kinh nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ngoài dưới góc độ pháp lý tại Việt Nam còn rất hạn chế, chưa có công trình mang tính bao quát và chuyên sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án thiết lập khung nghiên cứu dựa trên 4 trụ cột lý thuyết:

  1. Cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và chính trị; kết hợp cơ sở thực tiễn từ kinh nghiệm quản lý tôn giáo lịch sử của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
  2. Lý thuyết khoa học quản lý: Xác định quản lý nhà nước về tôn giáo là một chuyên ngành của quản lý nhà nước, đồng thời là bộ phận cấu thành công tác tôn giáo đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; phân định rõ chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
  3. Lý thuyết xã hội học tôn giáo: Dùng để phân tích sự tương tác qua lại giữa đời sống tôn giáo và các quá trình biến đổi xã hội.
  4. Lý thuyết hệ thống cấu trúc: Dùng để làm rõ vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo trong hệ thống chính trị và toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ năm 1975 đến nay.

Về hệ thống khái niệm công cụ, tác giả xác định:

  • Tiêu chí nhận diện tôn giáo gồm 5 yếu tố cấu thành: Giáo chủ (người sáng lập), Giáo lý (hệ thống lý thuyết tính thiêng), Giáo luật (giới răn, luật lệ), Giáo lễ (nghi thức thờ cúng) và Giáo hội (tổ chức của tôn giáo).
  • Quản lý nhà nước về tôn giáo theo nghĩa rộng: Quá trình các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để điều chỉnh, hướng dẫn quá trình tôn giáo và hành vi của tổ chức, cá nhân tôn giáo theo quy định pháp luật.
  • Quản lý nhà nước về tôn giáo theo nghĩa hẹp: Quá trình chấp hành và tổ chức thực thi pháp luật của hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) đối với các hoạt động tôn giáo.
  • Chủ thể quản lý: Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, UBND các cấp, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường), cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát. Khách thể quản lý là các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và hoạt động tôn giáo cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp Tôn giáo học với Quản lý học, Luật học, Chính trị học, Sử học và Xã hội học.
  • Kỹ thuật cụ thể: Thu thập và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, khảo sát điền dã, phỏng vấn sâu nhân sĩ và chức sắc tôn giáo (trong đó có kết quả khảo sát 95 chức sắc tôn giáo năm 2012), phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh thể chế.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn bản của Đảng và Nhà nước: 145 văn bản pháp quy ban hành từ năm 1945 đến tháng 12/2012 (trong đó 85 văn bản đang có hiệu lực).
  • Tư liệu nội bộ của các tổ chức tôn giáo: Hiến chương, Điều lệ, văn kiện đại hội và báo cáo thường niên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo, các hội thánh Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo.
  • Dữ liệu phỏng vấn thực địa và điều tra xã hội học do nghiên cứu sinh thực hiện năm 2012.
  • Các công ước quốc tế và luật tôn giáo thành văn của Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Singapore.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này gồm 4 tiết: Tổng quan tài liệu; Lịch sử nghiên cứu vấn đề; Lý thuyết nghiên cứu; Một số khái niệm được sử dụng trong luận án. Tác giả phân tích có hệ thống các giai đoạn nghiên cứu về tôn giáo và chính sách tôn giáo từ năm 1945 đến năm 2013. Luận án làm rõ những kết quả mà các học giả trong và ngoài nước đã đạt được, đồng thời xác lập khoảng trống khoa học về quản lý nhà nước đối với tôn giáo dưới góc độ hành chính - pháp lý. Tác giả xây dựng 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết khoa học, 4 khung lý thuyết nền tảng và chuẩn hóa định nghĩa của các thuật ngữ cốt lõi: Tôn giáo, Tổ chức tôn giáo, Tín đồ, Nhà tu hành, Chức sắc, Tự do tôn giáo, Quản lý nhà nước về tôn giáo, Nhà nước pháp quyền và Chính sách tôn giáo.

Chương 2: Cơ sở cho quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam

Chương 2 gồm 3 tiết: Cơ sở lý luận; Cơ sở thực tiễn; Nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam. Về cơ sở lý luận, luận án trình bày ba trụ cột:

  • Chủ nghĩa Mác - Lênin: Phân tích nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Tác giả điểm lại 5 cách hiểu đối với luận điểm "tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" của C. Mác, từ phê phán tiêu cực đến cách hiểu theo bối cảnh lịch sử thế kỷ XIX (thuốc giảm đau xã hội), và luận điểm của Lênin về việc nhà nước vô sản bảo đảm tự do tín ngưỡng, tách tôn giáo ra khỏi quyền lực nhà nước nhưng tôn giáo vẫn là vấn đề tư nhân đối với nhà nước.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Gồm 3 nội dung cơ bản: tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân; tự do tín ngưỡng phải gắn liền với độc lập dân tộc ("Nước không được độc lập, thì tôn giáo không được tự do"); chính sách đoàn kết toàn dân và đoàn kết lương - giáo, coi trọng cả phần xác và phần hồn của đồng bào có đạo. Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký là văn bản pháp lý nền tảng khẳng định nguyên tắc các tổ chức tôn giáo phải hoạt động tuân thủ pháp luật.
  • Quan điểm của Đảng: Hệ thống hóa 5 nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo và 5 nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003): tôn giáo tồn tại lâu dài cùng dân tộc; đại đoàn kết toàn dân tộc; cốt lõi công tác tôn giáo là vận động quần chúng; công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; bảo đảm quyền tự do hành đạo hợp pháp song nghiêm cấm việc truyền đạo trái phép và lợi dụng tôn giáo chống phá an ninh quốc gia.

Về cơ sở thực tiễn, luận án phân tích kinh nghiệm quản lý của các quốc gia:

  • Hoa Kỳ: Thập niên 1980 có trên 90% người dân mang niềm tin tôn giáo, trên 40% đi lễ nhà thờ vào sáng Chủ nhật; năm 2002 có 220 tổ chức giáo hội được công nhận với 1.200 hệ phái. Hoa Kỳ không có luật tôn giáo riêng (điều chỉnh qua luật dân sự) và không có cơ quan quản lý tôn giáo chuyên trách trong chính phủ, song lại sử dụng vấn đề tự do tôn giáo làm công cụ trong chính sách đối ngoại.
  • Pháp: Mô hình nhà nước thế tục hình thành qua Thỏa ước năm 1801 (4 chương, 77 điều), Luật Tách rời Nhà thờ và Nhà nước năm 1905 (6 chương, 44 điều, xác lập 3 nguyên tắc: tách quyền lực chính trị khỏi tôn giáo, tách giáo dục công khỏi tôn giáo, coi tôn giáo là việc riêng tư của cá nhân; xóa bỏ ngân sách nhà nước chu cấp cho hoạt động tôn giáo) và Luật Chống tà giáo năm 2001 (6 chương, 23 điều).
  • Nga: Từ năm 1991 điều chỉnh luật pháp theo chuẩn mực quốc tế, công nhận vai trò lịch sử của Chính thống giáo; đến năm 2012 đưa môn giáo lý và đạo đức tôn giáo vào giảng dạy bắt buộc trong trường phổ thông (2 giờ/tuần).
  • Trung Quốc: Thực hiện 6 nguyên tắc, phân định mâu thuẫn nội bộ nhân dân với hành vi phản động mượn danh tôn giáo; chính quyền chỉ quản lý sự vụ xã hội liên quan đến tôn giáo chứ không can thiệp nội bộ đức tin.

Cơ sở thực tiễn quốc tế của Việt Nam được cụ thể hóa bằng danh mục các điều ước quốc tế đã tham gia bảo đảm quyền con người, thể hiện qua Bảng 2.1 của luận án:

STT Văn kiện quốc tế của Liên hợp quốc Năm Liên hợp quốc thông qua Năm Việt Nam phê chuẩn hoặc gia nhập
1 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948
2 Công ước liên quan đến vị thế người tị nạn 1951
3 Công ước UNESCO chống lại sự phân biệt trong giáo dục 1960
4 Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965 1981
5 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 1982
6 Tuyên ngôn về xóa bỏ mọi hình thức bất khoan dung và phân biệt trên cơ sở tôn giáo hoặc tín ngưỡng 1981
7 Tuyên ngôn về quyền con người của những người không có quốc tịch ở nơi mà họ sinh sống 1985
8 Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 1990
9 Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của những người nhập cư và thành viên gia đình họ 1990
10 Tuyên ngôn về quyền của những người thiểu số về quốc tịch, sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ 1992

Ghi chú: Bảng 2.1 trích từ trang 46 của luận án.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay

Chương 3 gồm 3 tiết: Quản lý nhà nước về tôn giáo từ trước năm 1975 đến năm 1990; Quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1990 đến nay; Những vấn đề đặt ra cho quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Tác giả phân kỳ và đánh giá thực trạng:

  • Giai đoạn 1975–1990: Thực hiện công tác quản lý sau ngày thống nhất đất nước, giải quyết tàn dư chính trị - xã hội trong điều kiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hoạt động tôn giáo thời kỳ này bị chi phối bởi phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh.
  • Giai đoạn từ 1990 đến năm 2013: Bước ngoặt thể chế khởi đầu từ Nghị quyết 24/NQ-TW (1990), Nghị quyết 25/NQ-TW (2003) và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004). Công tác quản lý từng bước chuyển sang điều chỉnh bằng pháp luật.
  • Số liệu và biểu đồ minh chứng thực trạng: Luận án sử dụng hệ thống dữ liệu thống kê phản ánh sự phát triển của tôn giáo qua các biểu đồ:
    • Biểu đồ 2.1: Số lượng các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận qua từng giai đoạn (trang 62).
    • Biểu đồ 2.2: Số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam năm 2012 (trang 63).
    • Biểu đồ 3.3, 3.4, 3.5: Sự phát triển số lượng tín đồ của Tin Lành, Công giáo và Phật giáo.
    • Biểu đồ 3.6: Tương quan phát triển dân số Việt Nam năm 1975 và các giai đoạn sau.
    • Biểu đồ 3.7: Số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo.
    • Biểu đồ 3.8: Cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được công nhận ở Việt Nam tính đến năm 2012 (trang 105).
    • Bảng 3.2: Tốc độ gia tăng tín đồ Công giáo ở Tây Nguyên (trang 112).
  • Về kết quả khảo sát chức sắc năm 2012: Trong số 95 chức sắc tôn giáo được phỏng vấn, có 15,7% ý kiến cho rằng không cần có sự quản lý nhà nước về tôn giáo. Tác giả phân tích dữ liệu này nhằm phản bác nhận thức sai lệch, đồng thời khẳng định việc quản lý là tất yếu khách quan để duy trì trật tự pháp luật và bảo đảm sự bình đẳng giữa các tôn giáo.
  • Những vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn đất đai liên quan đến cơ sở thờ tự; sự xuất hiện của các "hiện tượng tôn giáo mới" và "tà đạo"; sự can thiệp từ bên ngoài dưới chiêu bài tôn giáo; tính thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản dưới luật và năng lực chuyên môn chưa đồng đều của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cấp cơ sở.

Chương 4: Dự báo tình hình tôn giáo và khuyến nghị đối với quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam

Chương 4 gồm 2 tiết: Dự báo tình hình tôn giáo Việt Nam; Khuyến nghị đối với quản lý nhà nước về tôn giáo.

  • Về dự báo: Tác giả nhận định đời sống tôn giáo sẽ tiếp tục gia tăng về số lượng tín đồ và mở rộng quan hệ quốc tế; xu hướng phân hóa và xuất hiện các tổ chức, hệ phái mới; các yếu tố chính trị lợi dụng tôn giáo vẫn tiếp diễn phức tạp; nhu cầu tham gia các hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện xã hội của các tổ chức tôn giáo ngày càng lớn.
  • Về khuyến nghị: Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
    • Thể chế hóa: Khẩn trương nâng cấp Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo thành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nhằm bảo đảm tính pháp lý cao hơn và tương thích với các công ước quốc tế.
    • Kiện toàn bộ máy: Nâng cao vị thế, chức năng của cơ quan quản lý chuyên trách (Ban Tôn giáo Chính phủ và hệ thống cơ quan tôn giáo địa phương), phân định rõ thẩm quyền giữa các bộ ngành (Công an, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường).
    • Đào tạo cán bộ: Chuẩn hóa ngạch bậc, nâng cao trình độ lý luận, kiến thức tôn giáo học và kỹ năng hành chính công cho đội ngũ công chức ngành tôn giáo.
    • Phương thức quản lý: Kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp quản lý hành chính pháp luật với công tác vận động quần chúng tín đồ và đối thoại với chức sắc giáo hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố của luận án, công trình đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm rõ tính tất yếu khách quan và yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về tôn giáo trong mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tôn giáo ở Việt Nam. Công trình xác lập hệ tiêu chí 5 yếu tố để nhận diện tôn giáo (Giáo chủ, Giáo lý, Giáo luật, Giáo lễ, Giáo hội) và định vị rõ ranh giới: Nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, chỉ thực hiện quản lý các hành vi xã hội tuân thủ pháp luật mà không can thiệp vào công việc nội bộ và đức tin tôn giáo thuần túy.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án đánh giá, khái quát có hệ thống kết quả quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1975 đến năm 2013; thống kê và phân tích hiện trạng 145 văn bản quy phạm pháp luật cấp trung ương (trong đó có 85 văn bản còn hiệu lực tính đến tháng 12/2012). Dựa trên cơ sở khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu 95 chức sắc tôn giáo (năm 2012), luận án làm rõ các mâu thuẫn xã hội phát sinh và cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng các khuyến nghị đồng bộ về việc xây dựng luật, kiện toàn bộ máy hành chính chuyên trách và nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Về đối tượng: Do xác định phạm vi chuyên ngành Tôn giáo học tập trung vào khía cạnh quản lý, luận án chủ yếu nghiên cứu sâu về chủ thể quản lý và các công cụ, phương thức thực hiện quản lý của Nhà nước mà không đi sâu khảo cứu các biến đổi nội tại của từng tôn giáo (đối tượng quản lý).
  • Về tư liệu: Do tính chất nhạy cảm chính trị - xã hội của vấn đề tôn giáo và các quy định bảo mật trong việc khai thác hồ sơ lưu trữ, một số tư liệu thực tế chỉ được nghiên cứu sinh khái quát tư tưởng mà không thể trích dẫn đầy đủ văn bản gốc.
  • Về thời gian: Phạm vi khảo sát thực tiễn của công trình dừng lại ở mốc thời gian năm 2013.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo cứu chuyên sâu về các đối tượng quản lý, đặc biệt là sự chuyển biến cấu trúc tổ chức và tâm lý của tín đồ trong các hệ phái Tin Lành và các hiện tượng tôn giáo mới.
  • Đẩy mạnh nghiên cứu so sánh pháp lý chuyên sâu về mô hình quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và các nước có điều kiện chính trị tương đồng.
  • Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tế của các văn bản luật mới sau khi Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 được sửa đổi hoặc thay thế bằng luật.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập các chuyên ngành Tôn giáo học, Triết học, Quản lý hành chính nhà nước, Luật học, Chính trị học; làm tài liệu tham khảo cho học phần "Tôn giáo và Quản lý nhà nước về tôn giáo".
  • Cán bộ quản lý chuyên trách: Cung cấp tư liệu thực tế và cơ sở lý luận cho công chức thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo/Phòng Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố và cán bộ phụ trách công tác tôn giáo ở cấp quận, huyện, xã.
  • Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng để cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu của Đảng tham khảo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về tôn giáo tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra những tiêu chí nào để xác định một tôn giáo cụ thể?

Tác giả xác định một tôn giáo cụ thể phải bảo đảm đủ 5 tiêu chí:

  1. Giáo chủ: Người sáng lập hoặc khai sáng ra tôn giáo.
  2. Giáo lý: Lý thuyết về tính thiêng, triết lý tôn giáo riêng biệt.
  3. Giáo luật: Hệ thống luật lệ, điều răn quy định hành vi của tín đồ và chức sắc.
  4. Giáo lễ: Các nghi lễ, phương thức hành lễ riêng biệt.
  5. Giáo hội: Tổ chức chặt chẽ của tôn giáo, có hiến chương và bộ máy điều hành.

2. Sự khác biệt giữa quản lý nhà nước về tôn giáo theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trong luận án là gì?

  • Nghĩa rộng: Là quá trình các cơ quan nhà nước sử dụng toàn bộ quyền lực nhà nước (bao gồm quyền lập pháp của Quốc hội, quyền hành pháp của Chính phủ, quyền tư pháp của Tòa án và Viện kiểm sát) để ban hành luật pháp, chỉ đạo, xét xử và giám sát nhằm điều chỉnh các quá trình tôn giáo theo đúng khuôn khổ pháp luật.
  • Nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành và tổ chức thực thi pháp luật của riêng các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các bộ ngành chuyên trách như Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Xây dựng...) nhằm hướng dẫn, quản lý các hoạt động tôn giáo diễn ra hàng ngày.

3. Quy mô hệ thống văn bản pháp quy về tôn giáo ở cấp trung ương giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2012 được ghi nhận như thế nào?

Theo Báo cáo 8 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được dẫn trong luận án, từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 cho đến tháng 12 năm 2012, các cơ quan cấp trung ương đã ban hành tổng cộng 145 văn bản quy phạm pháp luật về tôn giáo. Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2012, còn 85 văn bản có hiệu lực thi hành.

4. Kết quả khảo sát 95 chức sắc tôn giáo năm 2012 phản ánh dữ liệu gì về nhận thức đối với quản lý nhà nước?

Trong cuộc khảo sát thực địa năm 2012 với 95 chức sắc tôn giáo tham gia trả lời, có 15,7% chức sắc cho rằng hoạt động tôn giáo là công việc nội bộ và tự quản nên không cần có sự quản lý của Nhà nước. Tác giả đã sử dụng dữ liệu này để phân tích mâu thuẫn trong nhận thức và lập luận rằng nếu không có sự quản lý nhà nước thì các tôn giáo dễ hoạt động tự phát, xâm lấn lẫn nhau hoặc bị các lực lượng chính trị xấu thao túng, gây mất ổn định trật tự xã hội.

5. Ba nguyên tắc căn bản trong chính sách tôn giáo của Cộng hòa Pháp theo Luật năm 1905 được luận án nêu ra là gì?

Luận án chỉ rõ Luật về tách rời Nhà thờ và Nhà nước Cộng hòa Pháp ban hành năm 1905 (gồm 6 chương, 44 điều) xác lập 3 nguyên tắc nền tảng của nhà nước thế tục:

  1. Tách quyền lực chính trị ra khỏi tôn giáo.
  2. Tách nền giáo dục công cộng ra khỏi tôn giáo.
  3. Đưa tôn giáo trở thành công việc cá nhân thuần túy của mỗi công dân; Nhà nước không công nhận, không trả lương và xóa bỏ mọi khoản trợ cấp ngân sách cho việc hành đạo của các tôn giáo.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quản lí nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay" của tác giả Bùi Hữu Dược là công trình nghiên cứu chuyên ngành Tôn giáo học tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học quản lý và pháp lý hành chính. Công trình đã hệ thống hóa cơ sở lý luận từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng, đồng thời phân tích cơ sở thực tiễn qua kinh nghiệm quốc tế của Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quốc và các điều ước quốc tế về quyền con người. Bằng việc phân tích thực trạng quản lý qua hai giai đoạn lịch sử (1975–1990 và 1990–2013) cùng các dẫn chứng thống kê cụ thể, luận án đã làm rõ những bất cập của hệ thống thể chế và bộ máy công quyền, từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam.