CHƯƠNG I: PHẬT GIÁO VÀ ĐẶC ĐIỂM PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1. Khái quát về Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam 1. Khái quát một số nội dung cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng đến lối sống của người Việt Nam Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Không lâu sau khi ra đời, Phật giáo đã lan tỏa mạnh mẽ sang các quốc gia khác khác thuộc khu vực Châu Á Hiện nay, Phật giáo có mặt ở khắp các châu lục và là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới.
Trong Phật giáo có chứa đựng nhiều những giá trị văn hoá, đạo đức. Những giá trị này đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hoá của mỗi quốc gia dân tộc nơi mà nó đứng chân. Nếu có thể tóm tắt những điểm chính yếu trong học thuyết Phật giáo thì có thể nói như sau: học thuyết Phật giáo chứa đựng những điều cốt tử là: Khổ, Không, vô thường, vô ngã, nhưng sự triển khai cụ thể trong từng thời pháp, từng hoàn cảnh thì khác nhau. Phật giáo rất đề cao con người.
Hay nói cách khác, tiền đề xuất phát của Phật giáo là con người sống hiện hữu. Con người là trọng tâm trong học thuyết đạo đức Phật giáo. Và theo Phật giáo, con người phải chịu trách nhiệm về kết quả hành động của chính bản thân mình. Phật quan niệm cuộc đời là bể khổ.
Và cái khổ ấy là do chính con người tạo nên. Nguyên nhân của khổ là do vô minh và tham dục. Nhưng Phật cho rằng, cái khổ ấy không phải là vĩnh viễn không khắc phục được. Phật cho rằng, con người tạo nên cái khổ cho mình nên cũng chính con người phải tự tìm con đường thoát khổ cho chính mình.
Con đường ấy là sự nỗ lực rèn luyện trí tuệ thân tâm, diệt trừ vô minh, tham dục. Sự giải thoát trong Phật giáo là sự tự lực giải thoát. Đây là điểm tiến bộ và cũng là sự khác biệt rất lớn giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Các tôn giáo hữu thần cũng bàn về con người, về sự hiện hữu của con người và về con đường giải phóng con người.
Nhưng con người trong quan niệm của các tôn Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 giáo hữu thần là con người thụ động, là phiên bản một của đấng siêu nhiên cho nên giải phóng con người là làm cho con người trở về với đấng siêu nhiên. Hay nói cách khác, với các tôn giáo hữu thần, con người là ngã thể khác của đấng siêu nhiên nên nó chỉ được giải phóng khi đã giã từ cuộc sống thế tục, khi được nhận sự cứu vớt của đấng siêu nhiên. Với Phật giáo, con người là sự kết hợp của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức - tức 5 yếu tố gồm cả vật chất và tinh thần) chứ không phải là sản phẩm của thượng đế. Vì vậy, con người phải nhìn sâu vào thực tại hiện hữu của chính mình để thấy rõ tính chân thật của cái bản ngã để từ đó mà nỗ lực giải thoát cho mình.
Từ khổ đau hiện thực với tư cách là kết quả, Phật truy tìm căn nguyên nỗi khổ của con người. Phật cho rằng, con người khổ là vì “Vô minh”, vì “Tham ái” và “Chấp thủ”. Vô minh tức là không nhận thức được đúng đắn bản chất chân thực của vạn pháp. Vạn pháp là vô thường, vô ngã, vạn vật là trùng trùng duyên khởi.
Con người vì vô minh nên không nhận ra được bản chất chân thực đó. Vạn vật là vô thường nhưng con người vì tham ái, cầu mong, bám víu vào cái không ổn định nên đã đốt lên ngọn lửa si mê, sân hận. Kinh Pháp Cú viết: “Không có lửa nào như lửa tham, không có ngục tù nào như lòng sân. Không có lưới nào như vô minh.
Không có dòng sông nào như ái dục”[15, 23]. Vì tham ái, con người sinh ra chấp thủ, tức mong ước, là cố chiếm lấy làm sở hữu cho riêng mình những vật hay điều mình thích làm phát sinh cái ngã. Chính vì vậy mà con người tự làm khổ cho mình. Trong Phật giáo, trách nhiệm của mỗi người với những hành vi thiện ác của thân, tâm mình rất được đề cao.
Đức Phật dạy rằng: “Làm dữ ở nơi ta mà ô nhiễm cũng bởi ta; làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được”[69,43]. Trên con đường giải thoát khỏi cái khổ, Phật giáo dạy con người phải nương tựa chính mình chứ không nương tựa ai khác, không có một thế lực nào có thể mạnh hơn chính bản thân con người. Phật cho rằng, con người là tối thắng vì con người có thể làm được tất thảy mọi thứ. Bản thân mỗi người là ngọn đèn cho chính mình và người là hòn đảo trú ẩn của chính bản thân con người.
Phật ví mình chỉ như vị lương y biết kê đơn, bắt mạch mà thôi, còn việc con bệnh có uống thuốc hay không không phải là việc của lương y. Theo quan niệm Phật giáo, Bát chính đạo với tám con đường giải thoát mà Phật đã chỉ ra chính là cách thức để phá bỏ sự mê muội, thoát khỏi khổ đau, đạt trí tuệ bát nhã tức là đạt tới độ nhận thức được thực tướng của vạn pháp.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 Chính kiến là cái thấy về sự thực, cái nhận thức xác thực. Phật cho rằng, trong mỗi chúng sinh đã có sẵn hạt giống của chính kiến, của tuệ giác, chỉ có điều tuệ giác đó bị vô minh làm mờ lấp mà thôi. Chính kiến đưa đến chính tư duy.
Chính tư duy có nghĩa là suy nghĩ đúng, là sự suy nghĩ dựa trên sự thật, trên chính kiến, tuệ giác để thấy rõ được bản chất vô thường, vô ngã của sự vật. Hay nói cách khác, suy nghĩ đúng là suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi. Chính tư duy đưa đến chính ngữ. Chính ngữ là lời nói thật, lời nói chân chính.
Chính ngữ dẫn đến chính niệm. Chính niệm là suy niệm đúng đắn. Chính niệm dẫn đến chính nghiệp. Chính nghiệp là hành động chân chính để không tạo nghiệp.
Chính nghiệp đưa tới chính mạng. Chính mạng là nghề nghiệp, phương tiện sinh sống chân chính. Chính mạng đưa đến chính tinh tiến. Chính tinh tiến là nỗ lực siêng năng học tập, kiểm soát thân, khẩu, ý theo cái thiện.
Chính tinh tiến đưa tới chính định. Chính định là nhiếp tâm vào con đường chân chính không để bị vọng động bởi tác động của ngoại cảnh. Chính định làm phát sinh chính tuệ. Chính tuệ là sự sáng suốt để nhận thức rõ thực tướng của vạn vật.
Theo nhãn quan Phật giáo, Bát chính đạo làm cho con người nhận thức rõ được chân như của sự vật và con người, làm cho con người biết quý trọng sự màu nhiệm của cuộc sống, biết sống ung dung, tự tại giữa cuộc đời. Đặt trọng tâm vào con người trên con đường giải thoát cũng như trong việc rèn luyện đạo đức, Phật đã dùng thuyết Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo để lý giải cái khổ của con người qua các kiếp sống khác nhau. Theo quan niệm của nhà Phật, mọi hoạt động của con người từ thân, khẩu, ý đều để lại một kết quả nhất định, trong đó nhân có trước, quả có sau, quả phụ thuộc vào nhân và nhân nào quả ấy. Tuỳ thuộc vào việc con người gieo nhân như thế nào mà họ nhận được quả tương ứng.
Nhà Phật gọi đó là nghiệp báo. Như vậy, nghiệp báo được xem là kết quả hoạt động của con người (gồm cả thân, khẩu, ý) mà tất yếu họ nhận được trong hiện tại hoặc tương lai. Nhân quả, nghiệp báo không phải là sản phẩm của riêng Phật giáo mà là sản phẩm chung của triết học và tôn giáo Ấn Độ. Tuy nhiên, Phật giáo đã khái quát để trình bày chúng có tính hệ thống và đặc biệt chú ý đến “ý nghiệp”.
Ý nghiệp theo quan niệm của nhà Phật, là cái khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác. Nghiệp báo là do chính bản thân con người làm ra nên chính mình bị lôi cuốn vào vòng lục đạo, bị lăn lộn triền miên trong vòng sinh tử luân hồi, cứ chết đi, sống lại mãi nếu vẫn còn Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 những hoạt động tạo nghiệp. Giải thoát có nghĩa là trả nghiệp cũ và không tạo thêm nghiệp mới. Khi nào chúng sinh trả hết nghiệp, không còn lạc vào nghiệp thì được hoàn toàn tự do.
Như vậy, trong Phật giáo con người là chủ nhân của nghiệp, con người có thể thay đổi nghiệp của mình tuỳ thuộc vào hoạt động của thân và tâm mỗi người. Thuyết nghiệp của Phật giáo có ý nghĩa giáo dục đạo đức rất lớn. Nó hướng con người đến những điều thiện, điều lành, tránh xa điều ác, điều dữ. Phật giáo xây dựng đạo đức của mình trên nền tảng của triết lý vô ngã.
Vô ngã trong quan niệm nhà Phật không chỉ bó hẹp trong cái ta của con người cá nhân, của tôi hay của anh mà là không có cái ngã tuyệt đối ở tất cả các sự vật, hiện tượng của vũ trụ nói chung. Phật dạy tín đồ của mình phải nhìn sự vật, hiện tượng bằng con mắt vô ngã để có thể quán chiếu được lẽ không của vạn vật, để từng bước diệt khổ, có nghĩa là từng bước đạt được sự giải thoát. Chính vì vậy, theo quan niệm của nhà Phật, “Vô ngã” cũng có nghĩa là “Niết bàn”. Coi trọng một nếp sống đạo đức, Đức Phật đã đưa ra một hệ thống các phạm trù đạo đức như Lục độ, Lục hoà, Thập thiện, Tứ ân… - Lục độ hay còn gọi là 6 hạnh Ba la mật, bao gồm: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ.
Người tu hành đắc được 6 hạnh này thì độ được mình và độ được người sang bờ bên kia của bến mê, có nghĩa là đạt giải thoát. Lục độ là phép môn tu Bồ tát thừa. Theo tinh thần này, bất kỳ là ai, dù người mới nhập pháp môn tu hành hay đến các vị Bồ tát, Phật đều phải vừa độ mình, độ người để giúp mình và giúp người cùng ra khỏi bến mê. Như vậy, giải thoát theo tinh thần của Lục độ thì bản thân cá nhân mỗi người phải làm thiện, sau đó giúp người làm thiện.
Và cuối cùng, việc giúp mình, giúp người trở thành lẽ tự nhiên trên con đường thực hiện giải thoát.