CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀO QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. Điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên và xã hội Thành phố Đà Nẵng phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc.
Diện tích toàn thành phố Đà Nẵng là 1.256,54km2 (tính cả diện tích huyện đảo Hoàng Sa), trong đó có 08 đơn vị hành chính cấp huyện và 56 đơn vị hành chính cấp xã, là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố địa lý được so sánh như một nước Việt Nam thu nhỏ. Với vị trí như trên, Thành phố Đà Nẵng đã trở thành vùng đất có tầm quan trọng đặc biệt về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng của khu vực và cả nước. Trong từng khúc quanh của lịch sử dân tộc, vùng đất này cũng đã thể hiện mình như một trung tâm của các biến động lịch sử, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc. Năm 1858, Pháp chọn Đà Nẵng làm mục tiêu xâm lược đầu tiên.
Năm 1965, hải quân lục chiến Mỹ lại chọn Đà Nẵng làm nơi đổ quân đầu tiên vào miền Nam Việt Nam. Cụ thể: Về mặt địa hình: Thành phố Đà Nẵng có đồng bằng, đồi núi, và vùng biển rộng. Trong đó, vùng đồi núi cao và dốc tập trung ở phía Tây, Tây Bắc chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ với những đồng bằng hẹp. Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn, không chỉ có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố mà còn tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ để hình thành các khu tâm linh, nơi lý tưởng để Luan van 10 các cơ sở Phật giáo có thể tọa lạc và phát triển.
Về giao thông: Theo ngôn ngữ Chăm, địa danh “Đà Nẵng” có thể được giải thích là “sông lớn”, “cửa sông lớn”. Địa danh này đã được ghi chú trên các bản đồ được vẽ từ thế kỷ XVI trở đi. Điều đó có nghĩa là, từ rất sớm, trong cách hình thành tên gọi, tính chất cửa sông lớn, tính chất cảng thị đã được lưu ý như một điểm quan trọng của thành phố. Đặc biệt, kể từ năm 1835, khi vua Minh Mạng có dụ: “Tàu Tây chỉ được đậu tại Cửa Hàn, còn các biển khác không được tới buôn bán” thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền Trung.
Từ thời điểm này trở đi, thay vì cửa Đại Chiêm như trước đây, các quan hệ về buôn bán, ngoại giao ngày một tập trung dần vào một đầu mối chính của miền Trung là cửa biển Đà Nẵng. Đây cũng có thể là cơ sở thuận lợi để Phật giáo du nhập vào Đà Nẵng, đồng thời được hình thành chủ yếu tại khu vực Non nước - Ngũ Hành Sơn, nơi có vị trí gần cảng nước này. Ngoài ra, cùng với sự ưu đãi của thiên nhiên cho Đà Nẵng, thành phố còn được bao bọc bởi ba Di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút nữa là di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia phong Nha - Kẻ Bàng.
Vì thế, Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di sản miền Trung. Nhờ vậy, Đà Nẵng được xem là thành phố của du lịch, thành phố của những di tích và của những danh lam thắng cảnh. Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng chỉ cách các trung tâm kinh tế phát triển của các nước Đông Nam Á và Thái Bình Dương trong phạm vi bán kính khoảng 2.000 km, thuận tiện trong giao thương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là cơ sở hấp dẫn để trước đây Phật giáo đến với Đà Nẵng và ngày nay trên địa bàn thành phố có sự phân bố rộng rãi các cơ sở tự Phật giáo ở các vùng ven thành phố.
Về tài nguyên du lịch nhân văn: Đà Nẵng có rất nhiều khu di tích nổi tiếng Luan van 11 và thường gắn liền với những truyền thuyết Phật giáo. Các khu du lịch như: Bà Nà, Suối Hoa, Suối Lương, Bãi Bụt, đặc biệt là khu di tích danh thắng Ngũ Hành Sơn – đã được Uỷ ban nhân dân thành phố quy hoạch thành Công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn vốn là những nơi có tiềm năng trong việc phát triển loại hình du lịch văn hóa của thành phố Đà Nẵng trong đó có du lịch tâm linh Phật giáo. Ngoài ra, các lễ hội lớn được tổ chức hàng năm tại Đà Nẵng như Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội Cầu Ngư, Lễ hội Đình làng Hoà Mỹ, Lễ hội Đình làng Tuý Loan, Lễ hội Đình làng Hải Châu, đình làng Phong Lệ. Tất cả những đặc trưng về các yếu tố này đã đưa đến những tính chất đặc thù riêng của quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng trong mối quan hệ với tổng thể lịch sử và phát triển của Phật giáo khu vực miền Trung cũng như cả nước.
Sự tác động của bản sắc văn hóa Bản sắc văn hóa đó là sự lắng đọng trầm tư của mái đình - bến nước - cây đa, là khúc đồng dao, là câu dân ca có sức sống đến vô cùng. Đặc biệt, ngôi đình làng trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn còn nguyên một thế giới tâm linh thiêng liêng, thần bí mà cũng gần gũi với tâm hồn người dân quê. Đình làng nói chung, với chức năng vốn có, tự nó đã khẳng định giá trị, ý nghĩa trong đời sống văn hoá, xã hội của mỗi một cộng đồng dân cư của người dân Việt. Tại thành phố Đà Nẵng, những đình làng có thể kể đến đó là: đình làng Phong Lệ, đình làng Hải Châu, đình làng Túy Loan…v.v với nhiều lý do khác nhau, ngôi đình làng không thể mang nhiều giá trị to lớn như phần nhiều các ngôi đình miền Bắc hay một số đình ở miền Nam.
Nhưng thực tế, đó không có nghĩa là không cho phép chúng ta khẳng định giá trị của đình làng ở mảnh đất này. Ngoài ra, các di tích lịch sử văn hóa phụ cận như khu di tích Cố đô Huế, Phố Cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn cũng đã ít nhiều đưa đến những tác động về mặt văn hóa đối với Phật giáo Đà Nẵng, làm cho Phật giáo Luan van 12 tại Đà Nẵng có những đặc trưng riêng. Đặc trưng này thể hiện ở việc, Phật giáo tại Đà Nẵng có sự dung hợp của nhiều hệ phái, sơn môn, các hoạt động Phật giáo tuy tương đối phong phú và đa dạng song có sự thuần tuý cao hơn so với những địa phương khác. Ngày nay, Đà Nẵng là thành phố đã có bước phát triển ngoạn mục mang tầm thế kỷ trong thời gian qua.
Trong vài năm gần đây, tốc độ đô thị hóa ở Đà Nẵng bằng nhiều thập niên trước, sự tăng trưởng kinh tế, khoa học kỹ thuật đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nền văn hóa và đời sống tinh thần của thành phố được khôi phục, giữ gìn và phát huy. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XX đã đề ra định hướng “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một đô thị lớn của cả nước. Phấn đấu đến năm 2020 trở thành một thành phố có môi trường đô thị văn minh và giàu tính nhân văn, có thiên nhiên trong lành và đời sống văn hóa cao, làm giàu bằng kinh tế tri thức; một trong những thành phố hài hòa, thân thiện, an bình; một thành phố hấp dẫn và đáng sống”. Đây cũng là những cơ sở, điều kiện thuận lợi để Phật giáo tại Đà Nẵng có được định hướng phát triển chung với sự phát triển văn hóa chung của thành phố.
Tính cách của con người Đà Nẵng Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam Đà Nẵng nằm trong vùng đất được tôn vinh là "Ngũ phụng tề phi" gắn liền với truyền thống hiếu học và lòng say mê sáng tạo. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, quân và dân Quảng Nam- Đà Nẵng đã lập nên những chiến công oanh liệt, làm nên truyền thống “Trung, dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ”. Vùng đất này còn nổi tiếng với truyền thống hiếu học, từng mang tên “địa linh nhân kiệt”, có truyền thuyết “ngũ phụng tề phi” Thêm vào đó, “núi sông hùng vĩ nên con người tư chất thông minh, kẻ sĩ có lòng trung thực, lời nói ngang nhiên thẳng thắn, tính người nóng nảy ít trầm tĩnh nhưng thật thà, chất Luan van 13 phác” [23]. chính là đặc điểm và tính cách của con người Đà Nẵng kết hợp với việc họ được đào tạo trong môi trường đầy sóng gió, biến động của lịch sử nên càng trở nên can trường và lẫm liệt… Người dân Đà Nẵng có bản tính chất phác, ngay thẳng, sống giản dị, thân thiện, yêu sự chân thật và kiên quyết trong hành động chống lại những điều ác, điều xấu.
Đây cũng là những phẩm chất có nét tương đồng với người phật tử như: từ bi, độ lượng và vị tha, lấy hòa làm trọng. Đà Nẵng là quê hương của nhiều danh nhân. Họ là những vị tướng lĩnh, nhà chính trị, nhà văn hóa., tên tuổi gắn với nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước, của dân tộc như: Nguyễn Văn Thoại - một danh thần, một nhà ngoại giao, nhà quân sự, nhà kinh tế doanh điền nổi tiếng và có nhiều đóng góp quan trọng dưới thời nhà Nguyễn; Ông Ích Khiêm (1828 - 1884) - một danh nhân nỗi tiếng ở xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang; Thái Phiên (1882 - 1916): quê ở xã Hòa Phát, huyện Cẩm Lệ; Lê Văn Hiến, Thái Thị Bôi, Mẹ Nhu. Thành phố Đà Nẵng cũng là nơi quần cư của cư dân nhiều địa phương khác đến; là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước.
Dẫu chưa hình thành nét đặc trưng rõ rệt như một số nơi nhưng người Đà Nẵng vẫn có tính cách riêng và ngày càng được hun đúc cùng tiến trình phát triển đô thị. Đặc biệt, ngày nay, khi nhắc đến thành phố Đà Nẵng không thể không nói đến các chương trình lớn mang đậm tính nhân văn như chương trình “Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có”. Những kết quả có được đến hôm nay có công sức đóng góp rất lớn của các tầng lớp nhân dân Đà Nẵng.