Chương 1 VỀ ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO VÀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO 1. ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LY LUẬN. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đạo đức tôn giáo. * Cơ sở lý luận của vấn đề đạo đức tôn giáo: Vấn đề tôn giáo và đạo đức không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề thực tiễn.
Có hay không có đạo đức tôn giáo? Đánh giá đạo đức tôn giáo như thế nào đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Xung quanh vấn đề này còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có thể tóm tắt thành hai quan điểm chủ yếu sau đây: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tôn giáo không có đạo đức riêng. Đạo đức tôn giáo chỉ là vay mượn đạo đức chung của nhân loại.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Có đạo đức tôn giáo nhưng đó là thứ đạo đức hoàn toàn đối lập với đạo đức trần thế; đạo đức tôn giáo không chứa đựng các yếu tố tích cực, tiến bộ. Muốn có một kết luận xác đáng về các vấn đề trên, chúng ta cần dựa vào những cơ sở sau đây: Thứ nhất, cần bat dau từ luận điển của CNDVLS về đặc điểm phan ánh của ý thức xã hội. Một trong những đặc điểm đó là sự tác động lan nhau giữa các hình thái ý thức xd hội trong quá trình phan ánh tôn tại xd hội. Trong khi chỉ ra nguyên tac quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, CNDVLS đồng thời cũng chỉ ra rằng bản thân đời sống ý thức xã hội cũng có tính độc lập riêng của nó.
Trong quá trình phát triển. các hình thái ý thức xã hội có sự giao lưu. kế thừa và ảnh hưởng lan nhau. Như vay, ý thức tôn giáo không bao giờ tồn tại một cách biệt lạp với các hình thái ý thức khác như: đạo đức, thâm mỹ, chính trị.
Giữa chúng có sự liên hệ tác động qua lại và ảnh hưởng lan nhau tạo ra sự phong phú của mỗi hình thái ý thức xã hội. Trong ý thức tôn giáo không thể không có những yếu tố của tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ, văn hoá. và trong điều kiện xã hội có giai cấp thì còn có cả những yếu tố chính trị, đảng phái nữa. Nếu như trong bản chất của tôn giáo chỉ toàn là những sai lầm, ảo tưởng và tiêu cực thì có lẽ tôn giáo đã không thể tồn tại và phát triển hàng ngàn năm trong lịch sử các dân tộc khác nhau trên thế giới.
Trong cuốn sách "Phát hiện Ấn Độ", J. Nehru đã viết: "Rõ ràng là tôn giáo đã đáp ứng một nhu cầu trong tính chất con người, và đa số rộng lớn con người trên thế giới đều không thé không có một dang tín ngưỡng nào đó. Tôn giáo đã đưa ra một loại giá trị cho cuộc sống con người, mà dù một số chuẩn mực ngày nay không còn được áp dụng, thậm chí còn tai hại, những chuẩn mực khác vẫn còn là cơ sở cho tỉnh thần và đạo đức”. [69, 29] Như vậy, trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, giữa hình thái tôn giáo và hình thái đạo đức có quan hệ tương tác, đan xen và vay mượn lẫn nhau.
Vì vậy bản thân tôn giáo chứa đựng những nội dung đạo đức là điều có thể hiểu được. Tôn giáo và đạo đức, với tu cách là những thành tố tạo nên kiến trúc thượng tầng của xã hội, chúng có những cách phản ánh khác nhau đối với tồn tại xã hội. Tôn giáo phản ánh một cách hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người, trong đó cái hiện thực đã bị biến dang, cái tự nhiên đã trở thành cái siêu nhiên. Còn đạo đức phản ánh các mối quan hệ của con người với nhau và với xã hội, đó là những mối quan hệ hiện thực.
Vấn đề cơ bản của mọi đạo đức tôn giáo cũng như mọi học thuyết đạo đức nói chung là vấn đề ý nghĩa cuộc song con người. Tôn giáo xuất hiện trong điều kiện con người không tìm được hạnh phúc trong cuộc sống trần thế. Niềm tin tôn giáo đã gieo vào họ lòng tin ở sự cứu vớt. sự giải thoát.
Nếu sự cứu vớt và giải thoát không thực hiện được ở cõi đời này thì có thể thực hiện được sau khi chết. Niềm tin vào cuộc sống mai sau là nền tảng của mọi tôn giao. tôn giáo không đẻ cao cuộc sông và hạnh phúc tran gian. Con người can phải cam chịu.
nhan nhục và khổ hạnh để đến được thẻ giới cưc lac nơi thiên đường. Tóm lại, tôn giáo dựa vào những nguyên tác sau: 1) Từ bỏ hạnh phúc trần gian; 2) Nhẫn nhục với tình cảnh nô lệ; 3) Biết sợ hãi trước sức mạnh siêu nhiên. Chính vì vậy, tôn giáo trở thành công cụ phục vụ đác lực cho giai cấp thống trị (dù rằng lúc đầu tôn giáo không phải là của giai cấp thống trị). Tôn giáo làm cho nhân dân mê muội, làm tê liệt ý chí đấu tranh giai cấp.
Mác gọi tôn giáo là thuốc phién của nhân dân là theo nghĩa đó. Và cũng theo nghĩa đó, đạo đức tôn giáo là đối lập với đạo đức chân chính. Thứ hai, khi xem xét tôn giáo nhụt một hình thái ý thức xã hội, chúng ta thấy nó chứa đựng nội dung đạo đức (bao gồm giá trị, chuẩn mực, lý tưởng đạo đức.) thể hiện trong giáo lý tôn giáo. Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức của các tín đồ.
Da số các tôn giáo đều tuyên bố về giá trị tối cao của các lực lượng siêu nhiên (Thượng Dé, Chúa Trời, Thần Thánh) và mọi giá trị khác phải lấy đó làm chuẩn. Mặt khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo bao giờ cũng có hai trình độ: trình độ tâm lý và trình độ hệ tư tưởng. Trong hệ tư tưởng tôn giáo, thần học bao giờ cũng chiếm vị trí trung tâm. Nhiệm vụ chủ yếu của thần hoc là chứng minh sự tồn tại của Thượng Dé, lập luận cho tính đúng đắn của các giáo lý tôn giáo và nhất là của những lời răn dạy tôn giáo về đạo đức.
Trong hệ thống thần học từ xưa tới nay thường có một bộ phận nghiên cứu về đạo đức trên lập trường tôn giáo (thường được gọi là "thân học đạo đức"). Trong hầu hết học thuyết của các nhà thân học Tây Âu thời Trung cổ đều có một phần quan trọng của học thuyết đạo đức. Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, các nhà thần học càng đặc biệt quan tâm nghiên cứu vấn đề đạo đức, đặc biệt là những chuẩn mực đạo đức đáp ứng được nhu cầu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Thực tế cho thấy quan niệm đạo đức của hau hết mọi ton giáo, ngoài những giá trị đặc thù bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng còn dé cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân loại như: sống hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện.
tránh xa điều ác. Z Hơn nữa, đạo đức tôn giáo có một nét đặc thù: những quy phạm, những diéu ran day, cấm đoán. trong đạo đức tôn giáo ngoài việc khuyên khích hướng thiện còn tạo ra sự đan xen giữa hy vọng và sợ hãi. Ở những trường hợp tu hành đạt dén"tu giác”, đến “giác ngộ”, con người hành động có đạo đức vi triết lý đạo đức tôn giáo đã thấm vào họ, chuyển thành nhân sinh quan trong cuộc sống.
Song trên thực tế, có nhiều người thực hành đạo đức tôn giáo do sợ hãi, do sợ bị trừng phạt. Về mặt nào đó, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thể của cuộc sống thế tục và những giá trị có tính nhân văn. Có thể coi đó là tiếng chuông đồng điệu của tôn giáo với đời sống xã hội. Hầu hết mọi tôn giáo khi mới ra đời đều phản ánh khát vọng về tự do, công bằng, bác ái.
của người dân lao động. Bằng hình thức phan ánh đặc thù, tôn giáo thực sự mang lại cho con người một sự "an ủi mơ hồ”, giúp họ khác phục những khoảng trống hang hụt trong cuộc sống. Như vậy, chúng ta thấy cả hai ý kiến trên đều phiến diện hoặc không chuẩn xác. Có lẽ giáo sư Nguyễn Hữu Vui đã có một cách đánh giá công bằng và xác đáng khi cho rằng: "Trong hệ thống những giá trị chuẩn mực tôn giáo, ngoài những điều khuyên ran cấm đoán tạo nên nội dung riêng của đạo đức tôn giáo còn có những điều khuyên răn cấm đoán không hề có nội dung tôn giáo, mà là biểu hiện của các mối quan hệ thuần tuý trần thế.
[113, 46] Chẳng hạn trong Kinh thánh, ngoài việc quan niệm Thượng Đế là tồn tại tuyệt đối, là cá nhân tuyệt đối toàn năng vé dao đức còn có những lời khuyên hết sức tran thế: Không giết người, không trộm cap, không tà dâm, không làm chứng giả để hại người. Hoặc, những phạm trù dạo đức mane tính khái quát trong Phật giáo: Từ bi, bình đẳng, bác ái. nếu ta bỏ di cái bỏ thiêng liêng than bí. ta sẽ thấy nó có ý nghĩa nhất định đối với doi sống xã hội của chúng ta ngày nay.
Thứ ba, nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta có thể khẳng định rằng: khi bàn về tôn giáo, vấn đề đạo đức tôn giáo đã được đề cập. Chủ nghĩa Mác không chỉ nói nhiều đến mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo mà các nhà kinh điển còn chỉ ra ý nghĩa tích cực của nó. Theo Mác, "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là su phan kháng chống lai sự nghèo nàn hiện thực ấy". [55, 570] Ang-ghen đi sâu vào lịch sử của tôn giáo, đặc biệt là lịch sử của Thiên chúa giáo và chứng minh rằng sự xuất hiện của tôn giáo này là sự phản ứng lại sự bất công và tàn bạo của chế độ nô lệ.
Tương tự như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ là khát vọng của quần chúng phản kháng lại sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội An Độ cổ dai. Thiên chúa giáo kêu gọi tình yêu thương giữa con người với con người. Phật giáo chủ trương bình dang, từ bi, hy xả, vô ngã, vị tha. Ngoài ra, chúng ta còn có thể nêu lên những nét tích cực của nhiều tôn giáo khác khi các tôn giáo này xây dựng mối quan hệ yêu thương giữa người với người, hướng con người vào những việc thiện, biết giữ gìn đạo đức và xa lánh những điều ác.